Showing posts with label Bài thuốc. Show all posts
Showing posts with label Bài thuốc. Show all posts

7 bài thuốc trị bệnh của Hành Tăm


(Kienthuc.net.vn) - Hành tăm (Allium schoenoprasum L.) gốc ở vùng lạnh Bắc bán cầu, được nhập trồng từ lâu đời ở các vùng nông thôn và miền núi, ngoài là gia vị còn là vị thuốc trị cảm mạo, bí tiểu, sâu bọ cắn rất tốt.

Trị cảm hàn: Hành tăm giã nhỏ hoà nước ấm uống trong và đánh gió bên ngoài.
Trị rắn độc và sâu bọ cắn: Dùng 7 củ hành tăm nhai nuốt nước lấy bã đắp vào nơi bị cắn cấp thời, rồi chạy thuốc khác.
Trị bí tiểu trướng đầy: Giã giập hành tăm sao nóng đắp lên vùng bàng quang.
Phòng cảm lạnh: Đi mưa về nhai một nắm hành tăm rồi nuốt với 1 chén rượu trắng.
Bị thương ứ máu: Dùng củ hành tăm nấu nước rửa, sau đó giã củ tươi rịt vào.
Trị cảm do thời tiết (nóng rét, đau đầu, ngạt mũi): Nấu cháo gạo tẻ, giã 20 củ hành tăm cho vào chảo, thêm 1 thìa giấm ăn khi còn nóng.
Trị cảm phong hàn, sốt không có mồ hôi, đau mình mẩy, nước tiểu trong, sợ gió: Dùng hành tăm và lá tía tô mỗi thứ 20 - 30g, thái nhỏ nấu cháo gạo ăn khi còn nóng, sau đó đắp chăn nằm cho ra mồ hôi.

ThS Thanh Tâm (Giám đốc Trung tâm Y tế Sơn Hà)

Tiêm phòng và theo dõi cho trẻ sau tiêm chủng

Tiêm phòng và theo dõi cho trẻ sau tiêm chủng

Các bậc phụ huynh cần phải tiêm phòng cho trẻ đầy đủ theo đúng lịch hẹn nhằm bảo vệ cho trẻ được phát triển toàn diện trong những năm đầu đời.

Lịch tiêm chủng theo chương trình tiêm chủng mở rộng

Hiện nay, ngoài chương trình tiêm chủng quốc gia, một số địa phương có tiêm chủng thêm một số loại sau:

1. Viêm màng não mủ do Heamophilus Influenza B (Hib) có thể chủng từ 2 tháng tuổi trở lên.Tùy theo tháng tuổi mà lịch tiêm nhắc lại khác nhau. Có thể kết hợp chủng Infanix hexa (6 loại: DTC, Polio, VGSVB, Hib), Pentaxim (5 loại: DTC, Polio, Hib), Tetract Hib (4 loại: DTC, Hib)…

2. Sởi - quai bị - rubeol (rubella) tiêm từ 15 tháng tuổi.

3. Thủy đậu (trái rạ) tiêm một mũi duy nhất từ 12 tháng tuổi.

4. Viêm não Nhật Bản B được chủng khi trẻ trên 12 tháng tuổi tiêm 3 mũi (mũi 1 và mũi 2 cách nhau 1 – 2 tuần, mũi 3 cách mũi 1 sau 1 năm) nhắc lại mỗi 3 năm.

5. Cúm: có thể tiêm từ 6 tháng tuổi trở lên.

6. Viêm màng não do Meningoccoci A + C (não mô cầu A + C).

7. Ngừa tiêu chảy do rotavirus: đối với trẻ từ 2 - 6 tháng tuổi (uống).

8. Ngừa viêm gan siêu vi A: tiêm từ 1 tuổi trở lên.

9. Ngừa thương hàn: đối với trẻ từ 5 tuổi trở lên…

Các phản ứng sau tiêm chủng cần biết

- Đau tại chỗ tiêm .

- Quấy khóc thường do đau.

- Sốt nhẹ hoặc cao trong vòng 24 - 48 giờ.

- Nổi nốt cứng hay nốt dưới da có thể xảy ra và tồn tại trong một hay vài tuần.

- Một số ít có biểu hiện nổi mẩn, ngứa, mề đay hoặc hồng ban.

- Có thể rối loạn tiêu hóa, chán ăn, mất ngủ dễ kích động, trẻ bứt rứt khó chịu thoáng qua.

Các dấu hiệu nặng sau tiêm chủng cần đưa trẻ đến cơ sở y tế gần nhất:

- Sốt cao trên 39oC.

- Co giật.

- Tay chân lạnh, tím tái.

- Thở khó, co lõm ngực .

- Bứt rứt, quấy khóc nhiều không đáp ứng thuốc giảm đau hạ sốt thông thường.

- Lừ đừ, bỏ bú.

- Sưng to, đỏ quanh chỗ tiêm.

Khi nào không chủng ngừa cho trẻ?

- Trẻ đang có bệnh cấp tính, viêm phổi, tiêu chảy… (thường biểu hiện sốt cao, mệt mỏi, ho hoặc tiêu chảy nhiều lần).

- Trẻ đang được điều trị các loại thuốc ức chế miễn dịch hoặc corticoide liều cao và kéo dài quá một tuần.

- Trẻ có phản ứng trầm trọng với thuốc chủng ngừa ở những lần chủng trước (tạm ngưng vài tháng và khi tiêm chủng nên tiêm từng loại vắc-xin một, không nên kết hợp nhiều vắc-xin cùng một lúc).

- Trẻ bị HIV(+) có triệu chứng suy giảm miễn dịch.

- Trẻ đang có bệnh ung thư, suy giảm miễn dịch bẩm sinh hay mắc phải.

Làm gì khi con bạn bị sốt sau tiêm chủng?

Nhiệt độ bình thường của trẻ từ 36,5oC - 37,4oC. Sốt khi nhiệt độ đo hậu môn trẻ từ 38oC trở lên.

Sốt thường là triệu chứng của bệnh nhiễm siêu vi, vi khuẩn, đôi khi không phải do nhiễm trùng như bệnh hệ thống, bệnh lý ác tính, sốt do thuốc, sau chích ngừa, sốt do môi trường…

Nên làm:

Cho trẻ uống nhiều nước; trẻ tiếp tục được ăn, uống bình thường; nằm phòng thoáng; uống thuốc hạ sốt khi nhiệt độ 38oC trở lên; lau mát tích cực với nước ấm.

Phương pháp lau mát: dùng 5 khăn: 1 đắp trán, 2 đắp nách, 2 đắp bẹn. Lau với nước ấm thấp hơn thân nhiệt của trẻ 2oC.

Theo dõi nhiệt độ mỗi 15 - 30 phút, chấm dứt lau mát khi nhiệt độ dưới 38,5oC.

PGS.TS.BS. Ngô Minh Xuân
Nguồn suckhoedoisong.vn

Cây Trinh Nữ Hoàng Cung chữa thoái hóa cột sống



Cây trinh nữ hoàng cung tên khoa học là Cranium Latifolium L. họ thủy tiên Amaryllidaceac hay tên khác là tỏi lơi lá rộng.

Đặc điểm thực vật, phân bố: Cây thảo, có thân củ, hình cầu, đường kính củ 10-20cm. Thân giả ngắn, nhỏ. Lá có bản rộng, gân lá hình cung gắn song song, phiến lá rộng 6-11cm, dài 60-90cm, mép lá hơi ráp. Cụm hoa tán, trục phát hoa dài 60cm, có 10-20 hoa màu trắng, hoa hình ống hơi cong, dài 7-10cm, có chĩa thủy, phiến dài bằng ống. Cây ra hoa vào tháng 3-4, thường mọc ở tràng cỏ, cây bụi tại Biên Hòa – Đồng Nai hay Bà Rịa.

Cách trồng: cây dễ trồng, nhân giống bằng các thân cành (củ) tách ra.

Bộ phận dùng, chế biến: lá tươi hay phơi khô, thu hái quanh năm.


Công dụng, chủ trị: 


1. Chữa đau khớp, chấn thương tụ máu:

Lá Trinh nữ hoàng cung lượng vừa đủ, xào nóng, băng đắp nơi đau.

Củ trinh nữ hoàng cung 20g, dây Đau xương 20g, Huyết giác 20g, lá Cối xay 20g, Cam thảo dây 6g. Sắc uống ngày một thang.

Củ Trinh nữ hoàng cung nướng cho nóng, đập dập, băng đắp nơi sưng đau (Kinh nghiệm Ấn độ).


2. Chữa ho, viêm phế quản:

Lá trinh nữ hoàng cung 20g, Tang bạch bì 20g, Xạ can 10g, Cam thảo dây 6g. Sắc uống ngày một thang, chia 2-3 lần trong ngày.

Lá Trinh nữ hoàng cung 20g, lá Bồng bồng 12g, lá Táo chua 12g, Cam thảo dây 6g. Sắc uống ngày một thang, chia 2-3 lần uống trong ngày.


3. Chữa u xơ tuyến tiền liệt (đái không thông, đái đêm, đái buốt, đái dắt ở người cao tuổi).

Lá Trinh nữ hoàng cung 20g. Sắc uống ngày một thang, chia 2-3 lần uống trong ngày.

Lá Trinh nữ hoàng cung 20g, hạt Mã đề (Xa tiền tử) 12g, Cam thảo dây 6g. Sắc uống ngày một thang, chia 2-3 lần trong ngày.

Lá Trinh nữ hoàng cung 20g, Huyết giác 20g, rễ Cỏ xước 12g, dây Ruột gà (Ba kích sao muối 10g), Cam thảo dây 6g. Sắc uống ngày một thang, chia 2-3 lần uống trong ngày.


4. Chữa u xơ tử cung (đau bụng dưới, có thể rong kinh, rong huyết, ra máu âm đạo…).

Lá Trinh nữ hoàng cung 20g. Sắc uống ngày một thang, chia 2-3 lần uống trong ngày.

Lá Trinh nữ hoàng cung 20g, Hạ khô thảo 20g, rễ Cỏ xước 12g, Hoàng cầm 8g, Cam thảo dây 6g. Sắc uống ngày một thang, chia 2-3 lần uống trong ngày.

Lá Trinh nữ hoàng cung 20g, Huyết giác 20g, Ích mẫu 12g, Ngải cứu tươi 20g, lá Sen tươi 20g, Cam thảo dây 6g. Sắc uống ngày một thang, chia 2-3 lần uống trong ngày.

Lá Trinh nữ hoàng cung 20g, lá Trắc bách sao đen 12g, Cam thảo dây 6g. Sắc uống ngày một thang.


5. Chữa mụn nhọt:

Lá hoặc củ Trinh nữ hoàng cung, lượng vừa đủ, giã nát (hoặc nướng chín) đắp lên mụn nhọt khi còn nóng.

Lá Trinh nữ hoàng cung 20g, Bèo cái 20-30g, Cam thảo dây 6g. Sắc uống ngày một thang, chia 2-3 lần uống trong ngày.

Lá Trinh nữ hoàng cung 20g, Kim ngân hoa 20g. Cam thảo dây 6g. Sắc uống ngày một thang, chia 2-3 lần uống trong ngày.


6. Chữa dị ứng mẩn ngứa:

Lá Trinh nữ hoàng cung 20g, Kim ngân hoa 20g, Ké đầu ngựa 12g, Cam thảo dây 6g. Sắc uống ngày một thang, chia 2-3 lần uống trong ngày.

Chú ý: Hiện nay trong nhân dân có nhiều người nhầm lẫn cây trinh nữ hoàng cung với một số cây náng khác, đặc biệt là cây Náng hoa trắng (Crinum asiaticum L.), sử dụng lá đun sôi lấy nước uống bị ngộ độc, nôn ói. Do đó phải phân biệt rõ cây Trinh nữ hoàng cung với các cây náng khác có tại Việt Nam.
Nguồn từ thoaihoacotsong.vn

2 toa thuốc trị Tiểu Đường


Lời dặn:
Quý vị nên theo dõi số lượng nước lá dứa uống mỗi lần và nên đo lượng đường thường xuyên trong giai đoạn mới uống lá dứa, như vậy bạn có thể gia giảm số lượng nước lá dứa theo căn bệnh của mình, và tránh đừng để lượng đường xuống thấp quá, nhất là lúc đang lái xe, đang tắm, đang ngủ, sẽ rất nguy hiểm.
Nên mang theo kẹo ngọt, nước ngọt trong túi để ăn ngay khi bị xuống đường.
Hạn chế hoặc tránh uống lá dứa vào buổi chiều tối, để tránh bị đường xuống thấp vào ban đêm lúc đang ngủ.
Nên ăn nhiều bữa trong ngày, khoảng 4 tiếng cho mỗi buổi ăn chính và 2 tiếng cho bữa ăn vặt, phụ trội, nên ăn các rau xanh và  xu hào, bắp cải, bí, đậu đũa, xúp lơ, trái bơ (avocado), có thể ăn mì sợi vàng, miến làm từ đậu xanh, bánh mì nâu toàn phần (wholewheat). gạo lức (gạo nâu)
Tránh ăn các trái cây ngọt như: mít, chuối, xoài, hồng chín, mãng cầu...
Tránh ăn thức ăn tinh bột trắng như: cơm trắng, bún trắng, bánh mì trắng
=================

1. Toa thuốc 1

Uống Lá Dứa - Tin Vui Mới 5-12-2007
Sau 3 năm uống Tim Sen, sự hiệu nghiệm của Tim Sen giảm dần, tôi phải uống trở lại thuốc tây ! !
Sau 3 năm uống Tim Sen, sự hiệu nghiệm của Tim Sen giảm dần, tôi phải uống trở lại thuốc tây ! !
Một sự tình cờ, TRỜI đă ban cho gia tộc chúng tôi !

Người em gái thứ 5 lúc về Việt Nam, mang Lá Dứa qua Tây Đức để làm bánh. Nhưng không làm, lại tiếc của, lấy lá Dứa đem phơi khô nhưng còn thấy màu xanh, nấu nước uống cho thơm, nào ngờ đâu đo thử Đường lại quá tốt, tốt chưa từng thấy !

Em Năm báo cho Em Sáu của tôi biết sự việc đă xảy ra như thế.
Em Sáu bắt đầu dùng Lá Dứa và Kết Quả quá tốt . Trước đó phải chích Insulin, bây giờ không cần chích Insulin nữa và có thể ăn cơm nhiều hơn trước.

Được tin tốt ấy, tôi bắt đầu uống Lá Dứa và bỏ thuốc tây . Tôi cũng đạt được kết quả Tuyệt Vời .

Theo sự hướng dẫn của tôi, bà Trần Vũ Bản vừa báo cho tôi là bà uống Lá Dứa cũng đạt kết quả tốt.


Lá Dứa là loại lá có mùi thơm khi bỏ vào cơm hay chè. Lá Dứa mua về rửa sạch đem phơi khô nhưng vẫn còn thấy màu xanh.

Mỗi lần nấu chừng 10 lá Dứa, cắt nhỏ ra, với 2.5 lít nước, khi thấy còn lại chừng 2 lít là có thể dùng được.
Với 2 lít nước lá Dứa nầy uống hết trong 1 ngày. Uống trước mỗi bữa ăn chừng 20 phút.
Nếu 1 ngày ăn 3 lần th́ mỗi lần uống 0.7 lít nước lá Dứa. Uống 1 tuần lễ mới bắt đầu có kết quả.

Tất cả 10 anh em trong gia đình chúng tôi uống Lá Dứa đều đạt được kết quả TỐT .

Chúc các bạn có bệnh Tiểu Đường uống lá Dứa có Kết Quả TỐT.

Uống Lá Dứa là quan trọng, NHƯNG kiêng cử trong ăn uống còn quan trọng hơn nhiều. Một điều quan trọng nữa là Tập Thể Dục.
Mỗi ngày nên tập thể dục nhẹ khoảng 30 phút thí dụ như đi bộ hay chạy bộ.

Khi có Kết Quả Tốt, Xin Thông Báo cho tôi rất Cám Ơn .

KT61 Nguyễn Văn Bảnh 259 Westmoreland Ave, Toronto, Ontario, CANADA Tel: 416-533-6757
Email:
mailto:nguyen6757@ rogers.com
 -----------------------------------------------------------------------------------------------------------
2. Toa thuốc 2


Nhân chuyến đi Canada vào cuối tháng 4 vừa qua. Tôi có ghé Seattle ở lại Thiền Viện Minh Chánh một đêm, tôi đã được gặp thầy Kiên Tánh . Thầy nói chuyện lúc trước Thầy bị đường nặng ghê lắm có khi đo lên tới 1,200 phải chích Insulin ngày 2 lần, sau đó Thầy được người ta chỉ cho phương cách này . Thầy theo đó và bây giờ Thầy không phải uống thuốc nữa mà có khi đường xuống chỉ còn dưới 50 nên lúc nào, đi đâu Thầy cũng phải mang kẹo theo .
 
          Vật liệu :
          - Hột hạnh nhân (ALMOND) của Tàu có bán ở các chợ Tàu và Việt Nam. Có 2 loại một loại gọi là BẮC và một loại gọi là NAM. Loại BẮC ăn thì đắng (bitter), loại NAM thì bình thường.
 
          Công thức như sau :
          
1 - mua một gói 6 oz loại BẮC - Đại Bắc Hạnh Nhân 大 北 杏 仁

2 - mua 2 gói mổi gói 6 oz loại NAM - Trung Nam Hạnh 中 南 杏
 
           Cách làm :  Đem 2 loại BẮC và NAM trộn chung lại với nhau cho đều, rồi cho vào nồi với một lít nước nấu kỷ, rồi đem ăn vào mổi bữa cơm như ăn canh. Ăn cả nước lẫn cái . Một công thức chia ra làm 4 năm lần nấu.
 
           Tôi đã thử ngay sau khi tôi đi chơi về. Nhưng có một cái trở ngại là khi ra chợ Việt Nam tôi chỉ thấy bán có một loại thôi . Thầy dặn tôi ra chợ mua thì rẽ hơn nên tôi làm theo nhưng khi ra chợ thi chỉ có một loại mình không biết cái nào gọi là BẮC cái nào gọi là NAM nen tôi trở về tiệm thuốc Bắc quen ở gần nhà. Tôi hỏi mua thi có liền và ông chủ tiệm giải thích cho tôi là Bắc thi đắng Nam thi không đắng. Giá cũng rẻ lắm chỉ có $4.50 USD một pound thôi.Tôi liền mua cho 3 phần một lúc. Tôi nói ông cần mổi phần 1 gói 6 oz Bắc và 12 oz Nam. Tôi đem về nấu liền, uống thì hơi đắng như mình ăn trái hủ qua vậy đó.
 
Nhưng còn cái hột thì nó cứng lắm chứ không nhừ ra như hạt sen. Hôm sau tôi cho vào máy xay sinh tố xay ra nhưng ăn cũng không trôi. Tôi liền nhớ ra hôm cô bán hàng lúc cân cho tôi cô nói với tôi là có 2 vợ chồng người Mỹ mổi lần họ tới  là mua 5 pound một lần và cứ ăn sống như vậy . Tôi hỏi cô ta họ có nói ăn để chửa gì không ? Cô ta nói họ nói ăn để chữa cancer thế là tôi bắt chước theo, từ hôm đó mổi ngày tôi nhai ăn sống. Sáng một muỗng canh, chiều một muỗng canh thay vì tôi nấu. Nếu muốn xuống nhanh thi ăn nhiều hơn lên, nhưng tôi ăn từ từ sợ ăn nhiều một lúc đường xuống nhiều quá cũng dễ bị trở ngại .    
 
Kết quả : một tuần này tôi đo đường sáng nào cũng dưới 100 mặc dù bữa cơm chiều tôi ăn tới 2 chén cơm, thêm mổi ngày ăn 2 ly sữa chua mổi ly 8 oz . Thuốc thì bớt đi nữa viên mổi ngày, nếu đường đo xuống thì sẽ từ từ bớt thuốc .
 
Lúc tôi chưa ăn hạnh nhân thì tôi uống đủ thuốc, không dám ăn cơm, không ăn ngọt mà đo đường lúc nào cũng ở mức từ 120 đến 150.  Bạn nào có bị tiểu đường thì hảy thử đi . Không đắt tiền mà cũng dễ dàng xử dụng. Không nhai được thì cứ nấu rồi uống nước như canh theo Thầy nói.
 
HL
"TUYEN Tran" <hongloan307@yahoo.com>

3. Thêm Toa thuốc trị tiểu đường bằng rau má
Thêm Toa thuốc rau má trị tiểu đường,

Có nhiều vị mách bảo dùng rau má tươi xay ra uống (uống không, không bỏ đường), mỗi ngày hai hoặc ba ly. Tùy bịnh nặng hay nhẹ, nên điều chỉnh số lượng uống mỗi ngày cho thích hợp. Rất hiệu quả,
www.QuanTheAmBoTat.com
(Sưu tầm)
--End---

Chữa đau bụng kinh bằng y học cổ truyền


Chua dau bung kinh bang y hoc co truyen
Ngải cứu có tác dụng chữa đau bụng kinh.
Những phụ nữ hay bị đau bụng khi hành kinh có thể khắc phục tình trạng này bằng cách tự tạo lập một cuộc sống tinh thần thoải mái. Trước và trong kỳ kinh, nên tránh ăn các đồ sống lạnh, ưu tiên các thực phẩm có tính ấm như trứng gà, đường đỏ, thịt dê, thịt lợn, nấm, mộc nhĩ...
Đau bụng kinh (thống kinh) là tình trạng đau bụng vùng hạ vị, xuất hiện trước, trong hoặc sau khi hành kinh. Theo y học cổ truyền, nguyên nhân gây bệnh là sự mất điều hòa trong lưu thông khí huyết ở 2 mạch Nhâm và Xung; khí huyết bị cản trở, ứ tắc lại mà gây đau. Sau đây là một số bài thuốc giúp điều trị bệnh này:
1. Thống kinh thể thực chứng: Bệnh nhân đau vùng hạ vị (trước và trong kỳ kinh); đau tức, chướng hoặc quặn thắt, ấn vào vùng hạ vị thì cảm giác đau tăng. Lượng kinh ít, sắc đỏ tím sẫm, có thể có máu bầm đen.
- Lá ngải cứu tươi 50 g (khô 30 g), gạo tẻ 100 g. Rửa sạch ngải cứu, thái vụn, cho vào nồi, đổ nước xâm xấp, đun khoảng 30 phút, bắc ra chắt lấy nước. Dùng nước chắt nấu cháo với gạo tẻ. Cháo chín thêm đường đỏ, đun sôi vài lượt là ăn được. Ăn nóng, ngày vài lần.
- Đậu đen 30 g, hồng hoa 6 g, đường đỏ 30 g. Đậu đen rửa sạch, rang thơm, cho vào nồi cùng hồng hoa, đổ khoảng 400 ml nước, đun sôi rồi để nhỏ lửa tới khi đậu chín nhừ. Lọc lấy nước, cho thêm đường đỏ, uống ngày 2 lần, mỗi lần 10-20 ml, uống trong 3 ngày trước kỳ kinh.
- Lá ngải cứu loại bánh tẻ 9 g, sinh khương (gừng tươi) 15 g, trứng gà 2 quả. Ngải cứu rửa sạch, thái nhỏ; gừng tươi rửa sạch, đập giập, đổ 300 ml nước, cho trứng gà vào luộc, khi trứng chín thì bóc vỏ, cho vào đun tiếp với dịch thuốc trong 5 phút. Uống nước thuốc, ăn trứng gà. Mỗi ngày ăn 1 lần, ăn trong 3 ngày trước kỳ kinh.
- Hương phụ 8 g, thanh bì 6 g, ô dược 8 g, ích mẫu 12 g, sa nhân 6 g, ngưu tất 12 g. Sắc uống ngày 1 thang, uống liên tục trước khi hành kinh khoảng 3 ngày.
- Xuyên tiêu 10 g, can khương 30 g, đại táo 30 g. Tất cả ngâm nước trong 1 giờ, đại táo cắt bỏ hạt, gừng thái lát, cho 400 ml nước vào đun sôi, rồi cho xuyên tiêu vào đun tiếp trong 10 phút, bắc ra chắt lấy nước uống nóng, chia 2 lần/ngày.
2. Thống kinh thể hư chứng: Bệnh nhân đau bụng âm ỉ vùng hạ vị, thường đau sau khi hành kinh, xoa bóp thì đỡ. Người mệt mỏi, sắc mặt nhợt, lượng kinh ra ít, màu kinh nhợt.
- Gà ác 1 con khoảng 1-1,5 kg, hoàng kỳ 100 g. Gà làm sạch, bỏ hết phủ tạng; hoàng kỳ rửa sạch, thái lát, nhồi vào bụng gà. Cho gà vào nồi, thêm 1.000 ml nước, đun sôi rồi vặn nhỏ lửa hầm tới khi gà chín nhừ, thêm mắm muối. Ăn thịt gà, uống nước hầm. Ăn trước khi hành kinh khoảng 3 ngày.
- Đương quy 90 g, gừng tươi 150 g, thịt dê 500 g. Đương quy, gừng tươi rửa sạch, thái lát nhỏ; thịt dê làm sạch, lọc bỏ màng mỡ, dùng nước nóng rửa sạch hết huyết đọng, thái miếng dài. Cho nước vào đun sôi, vớt bỏ váng bẩn, vặn nhỏ lửa hầm trong 1 giờ tới khi thịt dê chín nhừ là được. Ăn thịt, uống nước hầm (dùng hết trong 1 bữa). Ăn liên tục trong 3 ngày trước khi hành kinh.
- Bạch truật 10 g, đẳng sâm, hà thủ ô, long nhãn, kỷ tử, ý dĩ, bạch biển đậu mỗi thứ 12 g; kê huyết đằng, hoài sơn, ngưu tất mỗi thứ 16 g. Sắc uống ngày 1 thang, uống trước khi hành kinh khoảng 3 ngày.
Sức Khoẻ & Đời Sống

THUỐC BỔ THẬN LỢI HAY HẠI?


Hiện nay, thị trường thuốc nước ta có nhiều loại thuốc bổ thận, tráng dương, được sản xuất trong nước hoặc nhập từ nhiều nguồn gốc khác nhau, thành phần công thức hoàn toàn từ dược liệu thiên nhiên như: Nhân sâm, Hải mã, Lộc giác, Hải cẩu thận, Lộc nhung, Quy bản… Theo kinh nghiệm người xưa truyền lại, cũng như dưới quan điểm y học hiện đại đã chứng minh, đó là những vị thuốc bổ dưỡng, mang lại nhiều lợi ích cho sức khoẻ. Lý giải tại sao, cũng như hiểu thế nào là một loại thuốc bổ thận tốt giúp cho người tiêu dùng lựa chọn, sử dụng an toàn và thuốc bổ thận dùng càng lâu càng tốt hay dùng càng lâu càng… tệ?
Thực ra, trên thị trường tân dược đã và đang xuất hiện nhiều loại thuốc cường dương. Thuốc cường dương Tây y hoàn toàn khác hẳn với thuốc tráng dương Đông y, từ cơ chế tác dụng cũng như từ thành phần thuốc chứa trong công thức. Tân dược chứa hoạt chất (chất có tác dụng chữa bệnh) mang cấu trúc phân tử có nguồn gốc tổng hợp, được sản xuất từ những nhà máy công nghiệp dược, trong khi Đông dược chứa hoạt chất có nguồn gốc hoàn toàn thiên nhiên, chế biến bằng phương cách sao, tẩm, hoặc nấu cao theo phương pháp cổ truyền. Gây xôn xao nhất là biệt dược Viagra, hiện được xem là một thần dược dành cho quý ông. Cũng như các Tân dược khác, các loại thuốc tây cường dương đều gây ra nhiều tác dụng phụ nguy hiểm. Chính vì thế mà Bộ y tế của một số nước, trong đó có Bộ y tế nước ta chưa cho phép nhập để người dân sử dụng mặc dù chúng có một ưu điểm hàng đầu (đặc trưng của Tây y) là công hiệu nhanh chóng, mau lẹ, ngay sau liều sử dụng đầu tiên. Hơn nữa, các Tân dược cường dương, khi dùng càng lâu thì càng có hại cho sức khoẻ, cũng như càng lệ thuộc thuốc và chẳng riêng gì với chứng bệnh này, với những bệnh kinh niên như thấp khớp, hen suyễn, tim mạch, tiểu đường, suy thận mãn, ung thư… thật là một sự khủng hoảng về y tế vì người ta chỉ có thể trị chứ không thể chữa.
Bởi vậy, các thuốc bổ thận, tráng dương Đông y lâu nay đã được chú ý, có thể sẽ trở thành một cứu tinh, được sử dụng trở lại nhất là ở giai đoạn hiện nay. Thật vậy, khác với các Tân dược cường dương, các Đông dược tráng dương đều là những chất bổ dưỡng cơ thể, một trong những cơ chế tác dụng của chúng là sinh tinh, nghĩa là bổ dưỡng từ gốc, nếu gốc được chăm sóc lâu ngày thì ngọn mới đơm bông, kết trái, do đó khi dùng thuốc bổ thận, người ta phải dùng thuốc nhiều ngày, nhiều tháng, thậm chí nhiều năm, thì mới mong thuốc đem lại nhiều toại ý, điều ấy cần nhắc nhở cho người dùng thuốc biết để việc chữa trị bệnh phải đến nơi đến chốn. Việc dùng thuốc bổ Đông y dài hạn rất tốt cho sức khoẻ. Hầu hết các thuốc tráng dương Đông y đều được gọi là thuốc bổ thận. Chúng ta nên nhớ bên Tây y không có danh khái niệm này, nghĩa là không có bất kỳ loại thuốc tây nào có công dụng bổ thận cả.
Hơn nữa, người xưa cho rằng: khi dương khí mất hoặc bị thất thoát hoặc sắp cạn kiệt, thì đời sống sinh lý, hoá lý của cơ thể sẽ bất lường như ăn không ngon, ngủ không yên, hay đau lưng, nhức mỏi… đó là triệu chứng thận suy, “tiên thiên” sắp hết nghĩa là cái “bầu” trời cho sắp cạn kiệt, do đó phải giữ cho cái “bầu” luôn đầy để đời sống con người không những kéo dài được tuổi thọ mà còn sống vui, sống khoẻ mạnh. Y học đông phương đã cho chúng ta biết, thuốc men chỉ là một phần của việc trị liệu, nếu biết trị bệnh từ khi chưa có bệnh, nghĩa là trị bệnh từ khi bệnh chưa phát, thì đó là lối trị bệnh theo kiểu “đế đạo”, biết cách ăn uống, dưỡng sinh hay tập luyện phải phép, thường để bổ sung cái “bầu” sắp cạn kiệt bằng những linh dược quý hiếm, nhằm “điều bổ” cho sự sút kém của tạng phủ, khí, huyết. Nếu làm được điều đó là chúng ta đã hiểu hết những ích lợi khi dùng thuốc bổ thận vậy.
Hiểu như thế nào là một loại thuốc bổ thận tốt, một thuốc bổ thận chính hiệu? Theo kinh nghiệm từ thực tế cho thấy, thuốc bổ thận có thể tạm chia làm ba loại:
1. Loại bổ thận âm: thuốc này người cao huyết áp có thể dùng được.
2. Loại bổ thận dương: làm cơ thể ấm, thậm chí có thể nóng lên, dù ấm hay nóng nhưng cơ thể phải cảm thấy khoẻ, ăn ngon, ngủ ngon, có thể chữa được cả bệnh liệt dương và không gây ra tác dụng phụ nguy hiểm thì đó mới thật sự là thuốc bổ thận chính hiệu.
3. Một đặc chế phối hợp được hai đặc tính trên, hoặc một bài thuốc nào đó có công dụng vừa bổ thận âm vừa bổ thận dương, phái nam, phái nữ, ông già, bà già, người cao huyết áp, người tiểu đường (người mắc bệnh tiểu đường thường hay bị yếu thận), người suy thận cấp, suy thận mãn (thường hay đau lưng, nhức mỏi) đều có thể dùng được, không những chữa được nhiều bệnh liên quan đến hệ tiết niệu, sinh dục, mà còn chữa được bệnh yếu sinh lý, đặc biệt là bệnh xuất tinh sớm, thì rõ ràng đó là một thần dược mà lâu nay loài người đang hy vọng, cũng như đang mong mỏi, trông chờ.

DS NGUYỄN ĐÌNH TOẠI

Lá lốt - Chữa mồ hôi chân tay và viêm âm đạo

Sự phiền toái do ra nhiều mồ hôi ở tay chân sẽ giảm đáng kể nếu bạn thường xuyên ngâm chân tay bằng nước lá lốt.

Trị bệnh kiết lỵ: Lấy một nắm lá lốt sắc với 300 ml nước, chia uống trong ngày.

Trị bệnh tổ đỉa ở bàn tay: Lấy một nắm lá lốt, rửa sạch, giã nát, chắt lấy nước cốt, uống hết một lần, còn bã cho vào nồi, đổ ba bát nước đun sôi kỹ. Vớt bã để riêng, dùng nước thuốc lúc còn ấm rửa vùng tổ đỉa, lau khô rồi lấy bã đắp lên, băng lại. Ngày làm 1 - 2 lần, liên tục 5 - 7 ngày sẽ khỏi.

Trị chứng tay chân đổ mồ hôi gây khó chịu: Lấy 30 gr lá lốt tươi, đổ một lít nước vào đun sôi, cho thêm ít muối. Để nước ấm ngâm tay chân vào. Làm thường xuyên ngày một lần trước khi đi ngủ, sẽ có kết quả tốt.

Trị chứng đau nhức xương khớp: Lấy 20 gr lá lốt, 12 gr thiên niên kiện, 16 gr gai tầm xoang, sắc với 400 ml nước còn 100 ml, chia uống trong ngày. Uống liền trong một tuần.

Hoặc lấy 15 gr lá lốt, 15 gr rễ cây vòi voi, 15 gr rễ cây cỏ xước, 15 gr rễ cây bưởi, thái mỏng, sao vàng. Sắc với 600 ml nước còn 200 ml, uống ba lần trong ngày. Uống liền trong một tuần. Hoặc lấy 5 - 10 lá lốt phơi khô hay 15 - 30 gr lá lốt tươi, sắc kỹ với nước, chia 2 - 3 lần uống trong ngày. Uống liền một tuần.


Trị viêm nhiễm âm đạo, ngứa, ra nhiều khí hư: Lấy 50 gr lá lốt, 40 gr nghệ, 20 gr phèn chua, đổ nước ngập thuốc khoảng hai đốt ngón tay, đun sôi thì bớt lửa sôi liu riu khoảng 10 - 15 phút rồi chắt lấy một bát nước, để lắng trong, dùng rửa âm đạo. Số thuốc còn lại đun sôi để xông hơi vào âm đạo, rất hiệu nghiệm.

Món ăn bài thuốc hỗ trợ điều trị thoái hóa khớp

Thoái hoá khớp gối là những biến đổi của hiện tượng lão suy dẫn tới tăng sinh chất xương và hình thành “gai xương”. Đây là một bệnh rất thường gặp ở tuổi trung niên và người cao tuổi.
Biểu hiện khớp gối đau, đi lại khó khăn thường phải chống tay vào mới đứng được, nhất là khi lên xuống cầu thang, khi ngồi xuống đứng lên. Những triệu chứng này sau khi được điều trị và nghỉ ngơi thì có thể giảm nhiều. Nhưng nếu lại lao động quá độ hoặc thời tiết âm u lạnh giá thì có thể tăng nặng. Bệnh tiến triển dần thành mạn tính. Trường hợp nghiêm trọng có thể dẫn tới teo cơ, biến dạng khớp, ảnh hưởng tới chất lượng sống sinh hoạt của người bệnh. Đây chính là viêm khớp dạng phì đại hay viêm khớp dạng thoái hoá.
Nguyên nhân dẫn tới viêm khớp xương rất nhiều: tổn thương, lao động mệt mỏi, bị lạnh, béo mập, ít hoạt động, dinh dưỡng thiếu, môi trường lao động quá ẩm ướt lạnh giá....
Đông y cho rằng, người ta đến tuổi trung niên chức năng gan thận không đầy đủ, gân xương mất nuôi dưỡng, lại thêm mệt mỏi kéo dài, giá lạnh xâm nhập, khí huyết lưu thông bị ngăn cản gây ra các chứng bệnh về khớp. Đông y cũng có nhiều phương pháp điều trị. Bài này xin giới thiệu cùng bạn đọc một số món ăn bài thuốc điều trị chứng bệnh thoái hóa khớp gối.
 
 Khớp bình thường                               Khớp bị thoái hóa




Nguyên tắc ăn uống:

Tại giai đoạn phát cơn, khớp sưng đau rõ rệt, có khi kèm nóng, đỏ ở các mức độ khác nhau, nên ăn uống thanh đạm, chủ yếu các thức ăn giải nhiệt, thông ẩm như dưa hấu, bí xanh, ngó sen, đậu phụ... kiêng ăn các thức cay nóng, nướng, quay trợ hoả hoặc mỡ béo, ngọt sinh ẩm như ớt, rượu, thịt mỡ, thịt dê...
Ở giai đoạn giải trừ dần, do căn bản là gan thận không đầy đủ, gân xương mất nuôi dưỡng, do vậy ăn uống nên bồi ẩm, chủ yếu là các thức ăn bổ lách tiêu ẩm như hồng táo, ý dĩ nhân, thịt chó, thịt dê...
Bệnh này là sự suy thoái dạng toàn thân biểu hiện cục bộ ở khớp gối, nên chữa trị cần chú ý chăm sóc toàn thân như ăn sữa bò, sữa đậu nành, xích đậu, đại táo...
Đây là bệnh có tổn thương sụn khớp nên cần ăn nhiều thức ăn có giàu chất sụn và có lợi cho việc sửa chữa khôi phục sụn khớp như vây cá, tai lợn, gân móng khuỷu, xương sườn thực phẩm có mai vỏ, như cua, tôm tép, trứng ngâm dấm...

Một số món ăn bài thuốc:

Bài 1: Bí xanh 500g, xương sườn của lợn 250g, nấu canh ăn, nên ăn nhạt, dùng chữa giai đoạn phát cơn, chủ yếu là giai đoạn sưng, ít nóng đỏ, hoặc giai đoạn giải trừ bệnh để giữ gìn sức khỏe, phòng tái phát.
Bài 2: Mướp tươi 250g, đậu phụ 250g, gia vị vừa đủ nấu canh ăn, dùng chữa giai đoạn phát cơn cấp tính có sưng, nóng đỏ đau ở mức độ nhẹ.
 
 Canh bí xanh sườn lợn.
Bài 3: Đậu xanh 100g, ý dĩ nhân 50g, đường cát, hoa quế vừa đủ, nấu canh ăn điểm tâm, sớm tối ngày 2 lần, dùng chữa giai đoạn cấp tính, sưng nóng đỏ đau rõ rệt, hạn chế cử động.
Bài 4: Hồng táo 10 quả, ý dĩ nhân 50g, không dùng đường nấu canh ăn điểm tâm, chia 2 lần sớm tối ăn hết, dùng chữa, giai đoạn giải trừ dần, sưng đau không còn rõ nữa, chỉ còn mệt mỏi.
Bài 5: Ý dĩ nhân 50g, đậu xanh 25g, bách hợp tươi 100g. Bách hợp tẽ cánh, xé bỏ màng trong, dùng chút muối tinh bóp nhẹ, rửa sạch để bỏ vị đắng, đậu xanh và ý dĩ nhân rửa sạch, đun sôi, đun nhỏ lửa tới khi đậu nhừ, sau thêm bách hợp cùng nấu tới đặc. Khi ăn thêm chút đường trắng, sớm tối mỗi lần ăn 1 bát con, dùng chữa âm hư, nóng trong, khớp gối sưng nóng đỏ đau nhiều.
Bài 6: Bột bạch phục linh 20g, xích tiểu đậu 50g, đại táo 10 quả, gạo tẻ 100g. Xích tiểu đậu nấu tới mười phần chín năm, rồi thêm gạo tẻ và đại táo vào nấu cháo, khi sắp đặc, thêm bột phục linh vào nấu thành cháo đặc, dùng chữa khớp gối sưng lan, hơi nóng.
Bài 7:  Nam ngũ gia bì 50g, gạo nếp 500g, ngũ gia bì rửa sạch, thêm nước ngâm no, sắc nước, cứ 30 phút lấy nước sắc một lần, cộng lại 2 lần, đem nước đó nấu với gạo nếp thành cơm nếp hơi khô, để nguội, thêm men rượu vừa đủ, trộn đều, lên men thành rượu cái. Mỗi ngày lượng vừa đủ ăn trong bữa ăn, dùng chữa giai đoạn giải trừ dần, có đau mỏi không chịu được gió lạnh.


Bài 8: Đậu tương 30g, hồng trà 2g, muối ăn 0,5g, nước 500ml. Nấu đậu tương tới chín, lấy nước, thêm hồng trà, muối ăn đun sôi. Mỗi lần uống 100ml, chia 4 lần, sau ăn đậu tương, mỗi ngày 1 thang, có tác dụng thông ẩm tiêu sưng, dùng chữa khớp gối sưng khá rõ nhưng không nóng đỏ.
(Sưu tầm)

Chanh tươi cho làn da đẹp!

Ai cũng biết chanh tươi là loại quả giải nhiệt rất tốt cho cơ thể, có chứa nguồn vitamin C dồi dào, ngoài ra chanh còn được “bào chế” thành những loại thuốc dưỡng da rất tốt
Cho làn da sáng đẹp
Trong quả chanh có chứa một loại enzyme giúp làm sạch da và tẩy những tế bào chết. Để có một làn da sáng đẹp, bạn hãy lấy một ít phèn chua, ngâm với nước cốt của nửa quả chanh và dùng bông gòn mềm thấm đều lên mặt. Sau nửa tiếng, hãy rửa lại với nước ấm. Cách làm này giúp cho da “dễ thở” khi phải thường xuyên tiếp xúc với môi trường có nhiều bụi bẩn.
"Tạm biệt" tàn nhang
Để ngăn ngừa tàn nhang và không cho chúng phát triển trở lại, hãy nghiền nát 1 quả hạnh đào, trộn lẫn với 1 lòng trắng trứng gà thêm một nửa thìa nước chanh. Bôi lên mặt và nằm thư giãn khoảng 20 phút sau, rửa sạch với nước ấm. Nếu làm như vậy trong vòng khoảng một tháng, bạn sẽ thấy hiệu quả tức thì và có thể yên tâm nói “tàn nhang ơi! chào nhé”
"Đối phó" với da dầu
Bạn thấy khó chịu khi trang điểm mà làn da lại thường xuyên nhờn bóng làm trôi mất lớp phấn. Không chỉ thế, gần đây trên khuôn mặt bạn xuất hiện khá nhiều “đèn pin” và thủ phạm chính là làn da dầu “khó tính”.
Muốn cải thiện tình hình, bạn hãy làm theo cách sau: trộn nửa thìa bột nghệ, với 3 thìa cùi đu đủ (đã nghiền nát), cùng 2 thìa nước cốt chanh. Thoa hỗn hợp lên mặt, tránh vùng mắt và rửa sạch sau 20 phút. Đảm bảo sau khi rửa mặt xong, bạn có thể yên tâm trang điểm với làn da mềm mại không có dầu.
Dưỡng thể làm trắng
Chanh không chỉ có tác dụng làm sáng mặt mà còn rất có hiệu quả trong việc dưỡng thể làm trắng da toàn thân. Bạn hãy trộn nước ép cà chua và nước cốt chanh với dung lượng bằng nhau.
Sau đó dùng khăn mềm thấm đều lên khuôn mặt và cơ thể. Chỉ sau một thời gian ngắn, bạn sẽ thấy ngay những thay đổi kỳ diệu của làn da.
Bạn thấy đấy, chanh thật sự là “trợ thủ” đắc lực cho làn da đúng không nào?, không chỉ thế mà loại dưỡng chất thiên nhiên này còn không hề tốn kém nữa chứ. Ngay từ ngày hôm nay, thay vì mua mỹ phẩm đắt tiền, bạn hãy ra chợ và mua thật nhiều chanh và cho vào tủ lạnh nhé!
(Sưu tầm)

Khi bị rết cắn, bạn làm gì

Có nhiều loại thuốc để điều trị hiệu quả khi bị rết cắn. Người dân tộc Dao thường dùng 2 vị thuốc để bôi vào vết cắn, đó là: nước dãi của Gà hoặc ốc (ốc trên cạn hay dưới nước đều dùng được).
Thực ra, Gà vốn là tử thần của rết. Con Gà có nhiều bí ẩn trong mối quan hệ với loài rết nói riêng, với vũ trụ và con người nói chung. Vai trò “sát thủ” quan trọng nhất của Gà đối với con rết là nước dãi của nó. Nước dãi Gà có thể vô hiệu hoá nọc độc của rết và tiêu hoá con rết thành thức ăn ngon cho gà. Vì vậy nước dãi của Gà đã trở thành bài thuốc chữa rết cắn rất hiệu nghiệm.
Cách dùng bài thuốc
Khi bị rết cắn, trước hết phải lấy vải, dây hay kiếm cái gì có thể buộc được để buộc vào phía trên vết cắn (thắt ga-rô) để hạn chế nọc rết truyền về tim. Sau đó tìm bắt ngay một con Gà, dùng ngón tay móc họng Gà lấy nước dãi rồi bôi vào vết rết cắn. Làm như thế hai hay ba lần thì cơn đau sẽ dịu bớt. Nếu không có gà thì phải tìm loài ốc thay thế bởi giữa loài ốc và loài rết cũng có một mối liên quan bí ẩn.
(Sưu tầm)

Món ăn - thuốc chữa viêm loét dạ dày - tá tràng

Loét dạ dày - hành tá tràng là bệnh mạn tính, tái phát mang tính chu kỳ, hay gặp ở thanh niên và trung niên. Theo y học cổ truyền, loét dạ dày - hành tá tràng thuộc bệnh danh vị quản thống. Ngoài việc dùng thuốc, SK&ĐS xin giới thiệu với bạn đọc các món ăn như dưới đây:
Món ăn thuốc từ cá diếc: Cá diếc tươi 250g, gừng tươi 30g, quất bì 10g, hạt tiêu 3g. Cá đánh vẩy, bóc mang, bỏ nội tạng và rửa sạch; gừng rửa sạch, thái phiến, quất bì thái chỉ. Dùng vải lụa gói gừng, quất bì và hạt tiêu rồi nhét vào bụng cá, cho nước vừa đủ, hầm nhỏ lửa, ăn cá, uống nước khi đói bụng.
Cá diếc tốt cho người bệnh viêm loét dạ dày - tá tràng.
Dùng chữa trị đau bụng thành cơn, sợ lạnh, thích ấm nóng (nếu chườm nóng vùng thượng vị hoặc uống nước nóng thì đỡ đau); không khát, nếu khát thì thích uống nước nóng; rêu lưỡi trắng.
Hoặc cá diếc to 2 con, sa nhân 6g, trần bì 8g, tiểu hồi hương 6g, hạt tiêu, hành, gừng, tỏi, muối ăn vừa đủ, dầu lạc 1.000g. Cá đánh vảy, bỏ mang và nội tạng, rửa sạch; hạt tiêu giã nhỏ, trần bì thái chỉ, gừng thái phiến, hành cắt đoạn, sa nhân đập dập... Tất cả trộn đều rồi cho vào bụng cá. Đổ dầu vào chảo cho ngập cá rồi rán chín, sau đó lấy cá ra, dùng nồi khác phi hành tỏi, cho thêm một chút nước rồi rim cá nhỏ lửa với gia vị cho ngấm kỹ để ăn.
Nước uống mạch nha: Mạch nha sống 30g (rửa sạch), thanh bì 10g (thái phiến) sắc kỹ cả hai trong 25 phút rồi lọc bỏ bã, lấy nước, chia uống vài lần trong ngày khi còn ấm.
Nước phật thủ: Phật thủ 15g rửa sạch, thái vụn, hãm với nước sôi trong bình kín rồi hòa thêm một chút đường phèn, uống thay trà trong ngày. Cũng có thể dùng phật thủ 20g thái vụn, sắc lấy nước rồi cho 100g gạo tẻ nấu thành cháo, chế thêm một chút đường phèn, chia ăn vài lần trong ngày.
Dạ dày lợn: Rễ cây quất vàng 30g rửa sạch, thái đoạn, dạ dày lợn 150g thái miếng, hầm cả hai thứ cho chín rồi chế thêm gia vị, ăn dạ dày, uống nước hầm.
 Dạ dày lợn hầm hạt sen.
Dùng chữa trị vùng thượng vị đau trướng, lan ra hai bên mạng sườn, không thích xoa nắn, nếu ấn vào thì đau tăng, buồn nôn, ợ hơi, ợ chua, đầy hơi, ăn khó tiêu, nếu ợ hơi hoặc trung tiện được thì dễ chịu, đại tiện không thông khoái.
Dạ dày lợn - hạt sen: hạt sen bỏ tâm 40 hạt, dạ dày lợn 1 cái, gia vị và dầu thực vật vừa đủ. Dạ dày làm sạch rồi cho hạt sen vào khâu kín, đem hầm nhừ, sau đó thái chỉ, chế thêm gia vị, trộn lẫn hạt sen rồi ăn.
Dùng chữa trị vùng thượng vị đau âm ỉ suốt ngày, thích chườm nóng và xoa nắn, có cảm giác lạnh bụng, đầy hơi, ăn kém, chậm tiêu, có thể buồn nôn và nôn ra nước trong, gầy sút, mệt mỏi, da, niêm mạc nhợt, đại tiện lỏng nát, tay chân lạnh.
Cháo thần khúc, mạch nha: Thần khúc 10 - 15g, sắc kỹ, lấy nước nấu với 100g gạo tẻ thành cháo, chia ăn vài lần trong ngày. Mạch nha 10g rửa sạch, sao vàng, sơn tra 6g sao cháy, cả hai sắc kỹ trong 30 phút, bỏ bã lấy nước, hòa thêm 10g đường đỏ, chia uống vài lần trong ngày.
Cháo ý dĩ, hoài sơn: Hoài sơn 30g, ý dĩ 30g, hạt sen bỏ tâm 15g, đại táo 10 quả, gạo tẻ 50 - 100g. Tất cả cho vào nồi nấu thành cháo, hòa thêm chút đường trắng, chia ăn vài lần trong ngày khi bụng đói.
Dùng chữa trị: Thường do ăn uống thái quá, thức ăn đình trệ lâu ngày gây nên. Vùng thượng vị đầy trướng, tức nặng khó chịu, ợ hơi, chua, nôn ra thức ăn chưa tiêu, nôn được thì bụng đỡ đau, đại tiện không thông. 
(Sưu tầm)

Đậu nành bảo vệ xương ở phụ nữ mãn kinh

Sử dụng các chế phẩm từ đậu nành có thể giúp bảo vệ xương ở phụ nữ lớn tuổi, đặc biệt là phụ nữ vừa mới mãn kinh. Đây là điều rút ra từ một công trình nghiên cứu được thực hiện ở Trung Quốc và được đăng trên tạp chí nội khoa “Archives of Intermal Medicine” của Hội Y học Hoa Kỳ tháng 8/2009.
Chất isoflavones trong đậu nành được cho là giúp kích thích sự tạo xương (tăng khả năng lấy canxi từ máu vào xương) và ức chế sự hủy xương (giảm khả năng lấy canxi từ xương ra ngoài). Nhóm nghiên cứu đã phân tích số liệu từ công trình nghiên cứu về sức khỏe của phụ nữ ở Thượng Hải, là những người vốn ăn nhiều đậu nành. Có 24.000 phụ nữ đã tham gia nghiên cứu. Đó là những người chưa từng bị gãy xương hoặc dùng hormone.
Những người này đã trả lời các bảng câu hỏi về cách ăn uống, sau đó khoảng 4 năm rưỡi lại trả lời các bảng câu hỏi về việc có bị gãy xương hay không?
Kết quả cho thấy, những người sử dụng nhiều chất đạm của đậu nành hơn có tỉ lệ bị gãy xương thấp hơn một cách đáng kể. Tác dụng bảo vệ xương được quan sát rõ nhất ở những người vừa mãn kinh trong vòng 10 năm. Trong nhóm này, tỉ lệ bị gãy xương ở những người dùng nhiều chất đậu nành nhất chỉ bằng một nửa so với những người dùng ít đậu nành. Một trong những nguyên nhân thường gặp nhất gây gãy xương ở phụ nữ lớn tuổi, nhất là những người châu Á nhẹ cân là bệnh loãng xương. Cách đơn giản để phòng bệnh này là sử dụng nhiều canxi ngay từ khi còn nhỏ. Nguồn canxi tốt nhất là từ sữa tươi (uống mỗi ngày 2 cốc sữa tươi). Nếu không dùng được sữa tươi thì mỗi ngày uống khoảng 2 viên canxi 500 - 600mg, là điều được nhiều bác sĩ và chuyên gia dinh dưỡng khuyến cáo.
(Sưu tầm)

Xoa bóp giúp ngủ ngon

Đông y gọi mất ngủ là thất niên (thất là mất, niên là ngủ) hoặc bất mị (bất là không, mị là ngủ), là một trạng thái rối loạn giấc ngủ thể hiện ở ban đêm không có khả năng ngủ hoặc thiếu ngủ. Có thể mất ngủ lúc mới vào giấc ngủ, nằm trằn trọc mãi không ngủ được rồi thiếp đi; có thể mất ngủ vào giữa giấc ngủ, nghĩa là đang ngủ giữa đêm tỉnh dậy và không ngủ lại được; có thể mất ngủ vào cuối giấc ngủ, người bệnh dậy quá sớm và không ngủ lại được.
Ở người mất ngủ lúc mới vào giấc ngu, theo Đông y, nguyên nhân thứ nhất là do suy nghĩ quá độ làm hại tỳ, tỳ yếu không sinh đủ huyết cho tâm làm cho cả tâm và tỳ đều hư gây nên (thể tâm tỳ hư). Thứ hai là sợ hãi lo lắng quá (thần tàng tại tâm, hồn tàng tại can). Thứ ba là do trước khi ngủ ăn quá no, bụng đầy trướng không ngủ được (thể vị gia thực nghĩa là dạ dày quá đầy). Y học cổ truyền có nhiều cách chữa trị hiệu quả chứng bệnh này. Xin giới thiệu cách xoa bóp có tác dụng an thần, ngủ tốt để bạn đọc có thể tự chữa bệnh cho mình.
- Dùng ngón tay cái day huyệt ấn đường sau đó vuốt từ ấn đường sang thái dương khoảng 30 lần.
- Xoa day huyệt bách hội 100 lần.
- Bấm day huyệt phong trì 30 lần.
- Bấm huyệt nội quan mỗi bên khoảng 1 phút.
- Bấm huyệt thần môn: Dùng ngón cái tay phải bấm vào huyệt thần môn tay trái, sau đó đổi bên bấm tiếp tay phải, mỗi bên bấm day 100 lần.
- Xoa bụng khoảng 2 phút.
- Xoa vùng thượng vị khoảng 3 phút.
- Xoa huyệt thận du: dùng hai gan bàn tay áp vào huyệt thận du xoa vòng lên xuống cho đến khi nóng lên thì thôi.
- Bấm day huyệt tam âm giao mỗi bên 30 lần.
Để phòng bệnh, có thể tự day ấn thường xuyên các huyệt trên mỗi ngày một đến hai lần. Cách này hiệu quả cao mà không gây hại. Ngoài ra cần tránh các nguyên nhân gây căng thẳng tinh thần, giữ cho đầu óc thảnh thơi trước khi đi ngủ. Về ăn uống cần kiêng chất kích thích như cà phê, trà đậm, thuốc lá, rượu bia...; nên ăn thức ăn thanh đạm, không ăn no trước khi ngủ. Nên tập các môn thể thao vừa sức hoặc đi bộ, vận động nhẹ nhàng. Trước khi đi ngủ nên ngâm chân vào nước ấm có pha muối. Kiên trì thực hiện sẽ có kết quả.
Để phòng bệnh, có thể tự day ấn thường xuyên các huyệt trên mỗi ngày một đến hai lần. Cách này hiệu quả cao mà không gây hại. Ngoài ra cần tránh các nguyên nhân gây căng thẳng tinh thần, giữ cho đầu óc thảnh thơi trước khi đi ngủ. Về ăn uống cần kiêng chất kích thích như cà phê, trà đậm, thuốc lá, rượu bia...; nên ăn thức ăn thanh đạm, không ăn no trước khi ngủ. Nên tập các môn thể thao vừa sức hoặc đi bộ, vận động nhẹ nhàng. Trước khi đi ngủ nên ngâm chân vào nước ấm có pha muối. Kiên trì thực hiện sẽ có kết quả.
Vị trí huyệt
- Ấn đường: Huyệt nằm ở điểm giữa đường nối hai đầu lông mày.
Huyệt ấn đường.
- Thái dương: Chỗ lõm giao điểm của đuôi lông mày với khóe ngoài mắt.
- Bách hội: Chỗ giao điểm của đường dọc qua giữa đỉnh đầu và đường nối 2 đỉnh của vành tai.
- Phong trì: Bờ xương chẩm, chỗ lõm sau tai.
- Nội quan: Huyệt ở phía trên ngấn cổ tay 2 tấc, ở giữa gân bàn tay và gân co cẳng tay.
- Thần môn: Trên ngấn cổ tay, bên cạnh gân khi co bàn tay.
- Thận du: Dưới mỏm gai đốt sống thắt lưng 2 sang ngang 1,5 tấc.
- Tam âm giao: Mắt cá trong đo thẳng lên 3 tấc, chỗ bờ trong xương chày.

Thư giãn bằng bấm huyệt

Khi bị stress với các triệu chứng căng thẳng thần kinh, mệt mỏi, mất ngủ, đau đầu, hoa mắt chóng mặt, giảm thị lực, đau vai, người ta có nhiều cách khắc phục khác nhau. Bấm một số huyệt là phục hồi nhanh chóng sự cân bằng của hệ thống thần kinh, điều hòa các chức năng sống của cơ thể, ai cũng có thể tự thực hiện.


Phương huyệt chủ yếu thường được chọn là các huyệt Bách hội, Ấn đường, Phong trì, Nội quan, Khúc trì, Túc tam lý, nhằm mục đích tái lập sự cân bằng hệ thống thần kinh và các chức năng khác của cơ thể... Có thể phối hợp phương pháp này với các phương pháp thư giãn khác để nâng cao hiệu quả.
Vị trí và tác dụng của các huyệt
 Bách hội là huyệt thuộc mạch đốc, có vị trí ngay chính giữa đỉnh đầu, là giao điểm của đường chính trung và đường thẳng nối 2 đỉnh vành tai. Còn có nhiều tên gọi khác như Tam dương ngũ hội, Nê hoàn cung, Ðiên thượng, Thiên mãn... Là huyệt hội của Ðốc mạch với 6 dương kinh. Huyệt Bách hội có tác dụng khai khiếu tinh thần, bình can tức phong, thông dương cố thoát, cử được dương khí bi hạ hãm, tiềm được can dương, thanh được thần chí, tiết được nhiệt ở các dương kinh...
Ấn đường là kỳ huyệt, có vị trí nằm chính chỗ lõm giữa 2 đầu lông mày hoặc là giao điểm của đường chính trung với đường nối 2 đầu lông mày. Có tác dụng định thần chí, đuổi phong nhiệt. Theo kinh nghiệm của tiền nhân, có thể phối hợp với Nội quan để chữa mất ngủ, đau đầu hoặc phối hợp Khúc trì để chữa bệnh huyết áp cao.
Nội quan là huyệt thuộc kinh Thủ quyết âm tâm bào lạc, giao hội với Thủ quyết âm và Âm duy mạch. Có vị trí nằm giữa 2 gân cơ gan tay lớn và gan tay bé ở cổ tay, cách lằn chỉ cổ tay về phía trên 2 thốn. Có tác dụng định tâm, an thần, hòa vị, thư trung, lý khí, trấn thống. Nghiên cứu của Soulié de Morant - một châm cứu gia người Pháp cho thấy nếu bổ huyệt Nội quan có tác dụng chữa bệnh suy nhược thần kinh, mệt nhọc, mất ngủ, sợ sệt, buồn phiền...
Khúc trì là huyệt thuộc kinh Thủ dương minh Ðại tràng, là huyệt hợp, thuộc Thổ, còn có tên gọi khác như Dương trạch, Qui cư. Có vị trí ở chỗ lõm, đầu lằn chỉ khuỷu tay khi co lại. Khúc trì có tác dụng sơ tà nhiệt, lợi quan tiết, thanh nhiệt, hòa vinh dưỡng huyết, khu phong, giải biểu. Thường được áp dụng để chữa các bệnh đau khuỷu tay, vai gãy, liệt chi trên, hội chứng cổ vai - cánh tay gây đau mỏi ở cổ vai, cánh tay...
Theo trường phái châm cứu Trạch Ðiền, Khúc trì là yếu huyệt có tác dụng làm cho sáng mắt (tăng thị lực), chữa các bệnh ngoài da như dị ứng, ban chẩn, mề đay...
Phong trì là huyệt thuộc kinh Túc thiếu dương Ðởm, hội với Dương duy mạch. Có vị trí nằm ở chỗ hõm nhất sau gáy. Có tác dụng khu phong, giải biểu, sơ tà, thanh nhiệt, thông nhĩ (làm tỏ tai - tăng thính lực), minh mục (làm sáng mắt - tăng thị lực). Thường được áp dụng chữa các bệnh cảm mạo, hoa mắt, chóng mặt, các bệnh về mắt, bệnh về tai... Kinh nghiệm của tiền nhân phối hợp với huyệt Khúc trì để chữa đau đầu, huyết áp cao, bệnh về thần kinh...
Túc tam lý là huyệt thuộc kinh Túc dương minh vi, còn có các tên như Quỷ tà, Hạ lăng, Hạ tam lý..., là huyệt hợp thuộc Thổ, là huyệt đa khí đa huyết. Có vị trí nằm ở dưới đầu gối, cách hõm dưới - ngoài xương bánh chè ngang 1 bàn tay, cách bồ xương chày (xương ống chân) ngang 1 khoát ngón tay. Túc tam lý có tác dụng lý tỳ vị, điều trung khí, hòa trường, tiêu trệ, sơ phong, hóa thấp, thông điều kinh lạc và hành khí hoạt huyết, phù chính, khu tà, bồi nguyên, bổ hư, dự phòng bệnh tật. Ðược áp dụng chữa các bệnh suy nhược, thiếu máu, thần kinh suy nhược. Ngoài ra còn chữa các bệnh về đường tiêu hóa... Người xưa cho rằng tác dụng của Túc tam lý ví như độc sâm thang vậy.
Cách bấm huyệt
Trong thực hành bấm huyệt, thường dùng đầu ngón tay cái bấm thẳng góc vào huyệt để tạo được lực tác động mạnh vào huyệt vị. Các huyệt Khúc trì, Phong trì, Nội quan, Túc tam lý đều có ở cả 2 bên thân mình, nên bấm cả hai bên.
Thời gian bấm mỗi huyệt khoảng 1-3 phút. Mỗi ngày nên day bấm 1-2 lần. Nên làm sau khi lao động trí óc căng thẳng, mệt mỏi... để phục hồi sức khỏe, trí tuệ, năng lực sáng tạo.
Chú ý: Các biện pháp thư giãn phối hợp nhằm nâng cao hiệu quả bấm huyệt là một vấn đề cần chú ý thực hiện. Khi day bấm huyệt, nếu có điều kiện nên làm ở nơi yên tĩnh, cần tập trung tư tưởng, tập thở, nới lỏng cơ bắp toàn thân... Ngoài ra, cần chú ý bố trí hợp lý thời gian làm việc, xen kẽ giữa nghỉ ngơi và làm việc để tránh gây sự căng thẳng thần kinh.
Đi bộ và tập thể thao cũng là những biện pháp thư giãn tích cực.
BS. Quách Tuấn Vinh, Sức khoẻ & Đời sống

Bí ẩn rượu tỏi Ai Cập

Nhiều nghiên cứu cho thấy rượu tỏi có thể chữa được các bệnh xương khớp, hô hấp, huyết áp, xơ mỡ động mạch, viêm loét dạ dày…


Vào thập kỷ 70 của thế kỷ 20, tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã cử nhiều chuyên gia y tế đến Ai Cập nghiên cứu để lý giải vì sao ở một quốc gia nghèo như Ai Cập, khí hậu sa mạc khắc nghiệt, nhưng sức khoẻ chung của người dân lại vào loại tốt, ít bệnh tật, tuổi thọ trung bình tương đối cao. Các nhà khoa học đã chia ra đi về nông thôn và thâm nhập vào các vùng có khí hậu khắc nghiệt khảo sát, thu thập tài liệu có liên quan đến sức khoẻ, bệnh tật. Rốt cuộc lại, họ đã đi đến nhận xét chung là nhà nào cũng có một hũ rượu ngâm tỏi để uống. Từ nhiều thế kỷ nay, người dân Ai Cập vẫn giữ được tập quán này.

Một số nghiên cứu khác của các nhà khoa học phương Tây cho thấy cụ thể hơn, rượu tỏi có thể chữa được bốn nhóm bệnh: xương khớp (viêm đau khớp, vôi hoá các khớp, mỏi xương khớp), hô hấp (viêm họng, viêm phế quản, hen phế quản), tim mạch (huyết áp cao, huyết áp thấp, xơ mỡ động mạch), tiêu hoá (ợ chua, khó tiêu, viêm loét dạ dày, tá tràng), mất ngủ. Năm 1983, các nhà nghiên cứu Nhật Bản thông báo đã bổ sung thêm hai nhóm bệnh nữa là bệnh trĩ và tiểu đường. Họ nhận xét đây là loại thuốc có hiệu quả chữa bệnh cao, không gây phản ứng phụ.

Những năm gần đây, nhiều nước cũng đã nghiên cứu và phát hiện nhiều đặc tính trị liệu quý của tỏi. Nổi bật là tác dụng kháng khuẩn, kháng nấm. Tác dụng kháng virút cũng đã được nói đến. Với hệ tim mạch, những nghiên cứu mới cho thấy tỏi có tác dụng làm giảm triglycerid và hàm lượng cholesterol xấu (LDL), nhưng lại tăng cholesterol tốt (HDL) do đó làm giảm các rối loạn chuyển hoá mỡ trong máu. Tỏi có khả năng giúp cơ thể phòng ngừa được ung thư song có điều trị được ung thư khi nó đã phát triển thành khối u hay không thì chưa chứng minh được, còn cần nghiên cứu tiếp.

Tỏi có nhiều hữu ích, đó là điều rõ ràng. Tuy nhiên đã là thuốc thì phải tính đến liều lượng thích hợp. Thuốc dùng liều quá cao cũng có hại và các phản ứng phụ, không nên lạm dụng. Dùng tỏi quá nhiều có thể gây hơi thở hôi, rối loạn dạ dày, ruột, ức chế tuyến giáp… Chính vì vậy chỉ nên áp dụng bài thuốc rượu tỏi với liều lượng mà WHO đã dày công nghiên cứu, phổ biến. Với chừng ấy là đã có tác dụng phòng và chữa được nhiều bệnh, lạm dụng có thể dẫn đến những hậu quả xấu.

PGS.TS Lê Văn Định (Viện Y dược học cổ truyền)


Theo SGTT

Cách làm rượu tỏi

Tỏi khô đã bóc bỏ vỏ 40g đem thái nhỏ, cho vào chai ngâm với 100ml rượu trắng 40 - 45o. Thỉnh thoảng lại lắc chai rượu, dần dần rượu chuyển từ màu trắng sang màu vàng. Đến ngày thứ 10, rượu chuyển sang màu nghệ là uống được. Mỗi ngày dùng hai lần, sáng uống 40 giọt (tương đương một thìa cà phê) trước khi ăn; tối uống 40 giọt trước khi ngủ. Uống liên tục suốt đời với một lượng rượu rất nhỏ như thế, người kiêng rượu hoặc không uống được rượu vẫn dùng được.

Theo Dantri

Hai bài thuốc trị ho đơn giản

Để trị ho, có thể dùng những cây, trái có sẵn trong vườn nhà. Theo lương y Trần Duy Linh, thông thường chúng ta bị ho là do cảm lạnh. Cách điều trị là giải độc, tiêu viêm.


Đông y còn chỉ ra một chứng ho khác do thu táo, với các triệu chứng cụ thể là: ho khan, ít đờm, họng hầu khô, lưỡi khô, ít tân dịch, đau họng, có thể có sốt nhẹ. Phép trị là sơ phong, thanh nhiệt.

Có hai bài thuốc đơn giản, nhưng trị ho hiệu quả theo hướng dẫn của lương y Trần Duy Linh. Cách thứ nhất là dùng rau tần dày lá (còn có tên gọi là húng chanh) mỗi ngày dùng 2 - 3 lần, mỗi lần lấy 5 - 10 lá, rửa sạch, để ráo nước, rồi ăn sống với một chút muối, hoặc giã nát với một chút muối, vắt lấy nước cốt ngậm trong miệng rồi nuốt từ từ. Cách thứ hai là dùng khoảng nửa ký tắc (quất), lựa quả chưa chín vàng, vỏ còn màu xanh, ngắt bỏ cuống, rửa sạch, để cho ráo nước, sau đó xếp vào lọ thủy tinh.

Cứ một lớp trái tắc thì cho vào một lớp đường phèn và vài miếng cam thảo bắc, mấy miếng kiết cánh, cứ như thế cho tới khi bỏ hết trái tắc vào hũ (khoảng 100g cam thảo và 100g kiết cánh là đủ). Đậy nắp hũ lại cho kín, rồi phơi chỗ hướng đông (buổi sáng nắng, buổi chiều mát). Phơi khoảng 1 tháng, khi đường đã tan ra và thấm vào trái tắc, cùng lúc các hoạt chất trong cam thảo, kiết cánh và tinh dầu trong trái tắc hòa lẫn vào nhau, tạo nên một hỗn dịch vừa ngọt, vừa chua, đắng... là lúc có thể dùng được. Mỗi khi bị ho hay viêm họng, có thể lấy 1 trái tắc và khoảng 1 muỗng dung dịch trong hũ, ngậm trong miệng, sau đó nuốt từ từ cho hết nước, rồi nhai cho hết trái tắc, có thể nhai luôn cả hột càng tốt, sau đó uống với một chút nước ấm. Mỗi ngày có thể dùng 2-3 lần như vậy cũng rất công hiệu.
 
(Sưu tầm)

Mật ong chữa viêm loét dạ dày


  Mật ong là loại thuốc bổ truyền thống mà từ rất lâu đời đã được con người sớm biết sử dụng làm thuốc để bồi bổ cơ thể và chữa trị bệnh có nhiều kết quả tốt.

Trong mật ong có chứa nhiều loại đường như fructoza, glucoza, các acid hữu cơ, cùng nhiều loại vitamin và nguyên tố vi lượng. Đông y cho rằng mật ong có tác dụng bổ trung, nhuận tràng, an thần, dưỡng vị, có khả năng thúc đẩy quá trình chuyển hóa protein, lipid, đường trong cơ thể, có tác dụng bồi bổ cơ tim, tăng cường thể chất, chống lại bệnh tật.

Chính vì vậy, mật ong được xem như một loại thuốc quý mà hầu như các gia đình đều có dự trữ mật ong trong nhà để làm thuốc nếu như không may có sự bất trắc xảy ra dùng làm thuốc cứu chữa được kịp thời. Cũng cần nói thêm là mật ong rừng bao giờ cũng tốt hơn mật ong nuôi tại nhà, vì ở rừng có rất nhiều loài hoa quý ong có thể đi xa để lấy nhiều nhụy hoa đem về làm mật, còn ong nhà thường vì lợi nhuận người ta cho ong ăn thêm đường mật nên ong lười không chịu đi xa để kiếm phấn hoa như ong rừng do đó chất lượng tự nhiên bị giảm hẳn so với mật ong rừng. Mật ong quý làm vậy do đó lợi dụng sự tín nhiệm này mà mật ong đã được kẻ xấu làm giả bán kiếm lời. Để có thể phân biệt loại mật ong giả, xin giới thiệu cụ thể như sau.

Thoạt tiên cần nắm được tính trạng của mật ong thật là thể lỏng đặc sánh, màu trắng đến màu vàng nhạt hoặc màu hổ phách, vàng quýt (mật vàng). Khi còn tươi mật ong trong đục, nhưng khi cất giữ hơi lâu sẽ hết trong, đồng thời xuất hiện các hạt kết tinh màu trắng (chính là đường fructoza và glucoza tách ra). Lấy chiếc đĩa ra cho chút mật vào sử dụng ngón tay quệt mật rồi giơ ngón tay ấy lên sẽ thấy tơ mật chảy liền gấp khúc, mùi thơm, vị ngọt sắc và không thấy có tạp chất hay mùi lạ là loại mật tốt.

Khi ta thử, nếu như các hạt kết tinh đường glucoza không rõ và khi nhỏ trên giấy thấy có thấm qua được giấy chứng tỏ trong mật có mạch nha.

Nếu khi lấy sợi sắt bóng nung đỏ và chọc vào trong mật ong để một lát, sau đó rút sợi sắt ra mà thấy không còn bóng nữa thì chứng tỏ mật ong này đã có pha trộn.

Hoặc khi lấy 2 giọt mật ong rồi hòa tan với nhau, sau đó cho 1 giọt iốt vào thử nghiệm nếu như thấy xuất hiện màu lam, hay màu lục hoặc màu nâu đỏ thì chứng tỏ trong mật ong này đã có lẫn chất bột hay hồ.

Sau đây xin giới thiệu vài cách chữa trị từ mật ong

Tỳ vị hư, mệt mỏi: Sữa bò 300ml, mật ong 30g. Cho vào đun sôi uống ngày 1-2 lần.

Chữa viêm loét dạ dày: Mật ong 1 chén cho hấp cách thủy rồi uống vào trước bữa ăn. Uống ngày 3 lần liền trong 1 tháng chỗ viêm loét dần biến mất.

Các bệnh về tim mạch: Hòa 3 thìa mật ong với nước ấm, uống vào trước bữa ăn. Ngày uống 2-3 lần.

Phế hư ho lâu không khỏi: Dùng mật ong 15g, bột xuyên bối mẫu 2 . Lấy nước đun sôi để nguội hòa ra uống, mỗi ngày uống 2 lần.

Hoặc lấy một quả lê to, khoét bỏ lõi, rồi cho 30g mật ong vào trong quả lê hấp chín ăn.

Chữa ruột nóng táo bón: Mật ong 30-60g, lấy nước đun sôi để nguội hòa ra uống, mỗi ngày uống 2-3 lần.

Hoặc lấy mật ong 60g, dầu thơm 30g (thay bằng sữa bò tươi 250ml cũng được), đun sôi uống vào bổi sáng, tối khi bụng đói.

Đông y trị bệnh đau đầu

Đầu là nơi hội tụ của mọi phần dương, là nơi của não bộ, khí huyết của ngũ tạng lục phủ đều hội tụ ở đó nên ngoại cảm thời tà, nội thương tạng phủ đều có thể gây đau đầu. Bệnh do nhiều nguyên nhân khác nhau gây ra, nhưng không ngoài ngoại nhân (lục dâm): phong, hàn, thấp, nhiệt... và nội nhân (do thất tình) gây ra.


Nguyên nhân

Do ngoại nhân (lục dâm): Chủ yếu do phong nhưng phong đều kết hợp với nguyên nhân khác (hàn-thấp-nhiệt).

- Nếu phong kết hợp với hàn dẫn tới phong hàn làm khí huyết ngưng trệ mạch không thông, huyết uất trệ từ đó gây đau đầu.

- Nếu phong kết hợp với nhiệt làm phong nhiệt dồn lên (nhiễu lên) đầu làm kinh mạch khí huyết rối loạn gây đau đầu.

- Nếu phong kết hợp với thấp làm phong thấp dồn lên (nhiễu lên) che mờ phủ tình minh, vít lấp các thanh khiếu làm cho dương khí trên đầu không thăng phát được gây đau đầu.

Do nội nhân (thất tình):

- Nếu can uất làm cho mất điều đạt dẫn đến tình trí không điều hoà làm cho can hoả bốc lên (vì uất làm hoá hỏa) dấn tới can âm suy, lâu ngày có thể kéo theo cả thận âm suy khiến can hoả càng bốc lên, dồn khí huyết ở đầu dẫn đến đau đầu.

- Nếu tỳ kém vận hoá làm đàm thấp ứ đọng ảnh hưởng đến công năng vận chuyển của tỳ, không sinh được khí huyết, đờm tự sinh và trở ngại thanh dương, thanh không thăng, trọc không giáng dẫn tới đau đầu. Hoặc do ăn uống kém, lao động quá sức, ốm lâu, ra máu, băng huyết dẫn tới khí huyết kém không nuôi được não gây đau đầu.

Biện chứng luận trị

Đau đầu do phong hàn

- Triệu chứng: xảy ra sau khi cảm giác lạnh. Bệnh nhân phát nóng ghê lạnh, đau đầu, đau vai, gáy, cổ, xoa bóp thì dễ chịu. Thích trùm kín đầu. Không khát nước, rêu lưỡi trắng, mạch phù.

- Phép chữa: Sơ phong tán hàn.

- Bài thuốc:

+ Khung chỉ thang: xuyên khung 12g, bạch chỉ 12g. Sắc uống ngày 1 thang chia 3 lần.

+ Khung trà điều: xuyên khung 12g, phòng phong 6g, bạch chỉ 12g, bạc hà 8g, kinh giới 12g, cam thảo 6g. Sắc uống ngày 1 thang chia 3 lần. Có thể thêm khương hoạt 12g hoặc tế tân 5g. Nếu thấp nhiệt gia bạc hà 10g.

Nếu hàn tà xâm phạm kinh quyết âm, đau đầu dữ dội, buồn nôn, chảy dãi, nặng, chân tay lạnh.

Phép điều trị: ôn kinh tán hàn ở quyết âm.

Bài thuốc: Dùng bài Ngô thù thang: ngô thù 6g, nhân sâm 12g, sinh khương 6g, đại táo 12g. Nếu bỏ nhân sâm, đại táo thì gia bán hạ chế, xuyên khung. Sắc uống ngày 1 thang chia 3 lần.

Đau đầu do phong nhiệt

- Triệu chứng: Sốt cao, sợ gió, đau nhức đầu như cắn xé, mặt và mắt đỏ, khát nước, nước tiểu vàng, đại tiện táo, rêu lưỡi vàng, mạch sác.

- Phép chữa: Sơ phong thanh nhiệt.

- Bài thuốc: Dùng bài Khung chỉ thạch cao thang: xuyên khung 12g, thạch cao 16g, bạch chỉ 12g, cúc hoa 12g. Sắc uống ngày 1 thang chia 3 lần.

Nếu chủ yếu sơ tán phong tà, thanh nhiệt ở kinh dương minh gia thêm bạc hà, chi tử, hoàng cầm, vị thuốc sơ giải (về cay mát). Nếu đại tiện bí gia đại hoàng để thông phủ tả nhiệt.

Đau đầu do phong thấp

- Triệu chứng: Đau đầu có cảm giác như bó chặt, trùm kín lại, đau như dùi, người ê ẩm nặng nề, đầy bụng,chán ăn, lưỡi nhợt nhạt, mạch nhu, miệng nhạt.

- Phép chữa: khu phong thắng thấp.

- Bài thuốc: dùng bài Khương hoạt thắng thấp thang (nhiều vị cay ấm để đi lên): khương hoạt 12g, mạn kinh tử 12g, độc hoạt 12g, cam thảo 6g, xuyên khung 12g, phòng phong 10g. Sắc uống ngày 1 thang chia 3 lần.

Nếu thấp nặng gia thương truật 10g, chỉ xác 8g, trần bì 8g.

Nếu đau đầu gia bạch chỉ 8g, xuyên khung 8g, kinh giới 8g, độc hoạt 12g.

Nếu bệnh phát về mùa hè, người nóng có mồ hôi, khát, buồn bực là thử thấp giao trung. Phép chữa: thanh thử hoá thấp. Dùng bài Hoàng liên hương nhu ẩm: bỏ biển đậu gia hoắc hương 8g, thạch hộc 8g, mạn kinh 8g, lá sen 8g, hoàng liên 8g, hương nhu 8g, hậu phác 8g, biển đậu 8g). Sắc uống ngày 1 thang chia 3 lần.

Đau đầu do đàm trọc

- Triệu chứng: đau căng, lợm giọng buồn nôn, chảy dãi, nôn mửa, thường nôn ra nhiều đờm bọt, bụng ngực ấm ách, rêu lưỡi trắng nhờn, mạch hoạt (thuộc thấp đờm), nếu rêu chuyển sang vàng, mạch hoạt sác là thấp đờm hoá hoả.

- Phép chữa: Hoá đờm giáng nghịch.

- Bài thuốc: dùng bài Bán hạ bạch truật thiên ma thang gia giảm: bán hạ 12g, trần bì 8g, phục linh 12g, can khương 4g, trạch tả 12g, thiên ma 12g, đảng sâm 12g, hoàng kỳ 12g, thương truật 12g, bạch truật 12g, thần khúc 8g, mạch nha 12g, hoàng bá 8g. Gia vị nhị trần: trần bì 8g, bán hạ 8g, bạch linh 12g, cam thảo 4g. Gia mạn kinh tử 12g, xuyên khung 12g, thiên ma 12g, bạch truật 12g, có khi gia thêm hậu phác 8g, tật lê 8g, câu đằng 20g. Sắc uống ngày 1 thang chia 3 lần.

(theo suckhoedoisong)

Thần kinh toạ

Thần kinh toạ là dây thần kinh xuất phát từ tuỷ sống vùng thắt lưng chạy dọc xuống chi phối hoạt động của hông và chân, khi bị đau thần kinh toạ sẽ có dấu hiệu đau dọc theo mặt ngoài hoặc mặt sau của chân, có thể đau một bên hông chân nếu thoát vị lệch về một bên, hoặc đau hai bên hông chân nếu thoát vị thể trung tâm.


Nguyên nhân thường do thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng chèn ép vào rễ thần kinh, do vậy để phòng và điều trị, quan trọng là phải làm cho hệ cân xương, dây chằng cột sống được vững chắc nhằm hạn chế tối đa sự chèn ép của đĩa đệm.

“Dưỡng cốt Tinh hoa” được bào chế từ bài thuốc cổ phương có từ đời Đường cách đây hơn 1000 năm. Gồm các vị thảo dược có tác dụng bổ Can Thận để bổ dưỡng xương khớp nhằm phòng và trị bệnh xương khớp, vì theo Đông y Can chủ cân, Thận chủ cốt tuỷ, đó cũng là phương pháp chữa trị tận gốc của bệnh.

Để phòng và điều trị đau thần kinh toạ cần tập các động tác làm giãn cột sống như: tập xà đơn, tập bơi; tránh các động tác mang vác nặng gây đè nén cột sống. Đặc biệt cần tập khởi động cột sống bằng các động tác nhẹ nhàng làm mềm các cơ lưng buổi sáng ngủ dậy hoặc trước khi phải mang vác vật nặng.

Tại Trung tâm Y dược Tinh Hoa Hà Nội, trong 13 năm qua hàng vạn bệnh nhân đã được chữa khỏi bởi “Dưỡng cốt Tinh hoa”. Với công nghệ bào chế hiện đại dạng viên nang, việc sử dụng trở nên rất dễ dàng. Mua “Dưỡng cốt Tinh hoa” cũng thuận lợi vì đã có bán ở khắp các tỉnh thành trong cả nước.

Dưới đây là địa chỉ có thể mua “Dưỡng cốt Tinh hoa”:



Tỉnh/TP


Địa chỉ


Điện thoại



An Giang

13 Chi Lăng - Châu Đốc

076.3866177



77 Nguyễn Huệ-TP.Long Xuyên

076.3843407



Bắc Giang

240 Lê lợi - TP Bắc Giang

0240.3856684



Bạc Liêu

113 Hoàng Văn Thụ-Bạc Liêu

0781.3822079



Bắc Ninh

269 Nguyễn Trãi - TP Bắc Ninh

0241.3826446



Bình Định

14 Ngô Mây - Quy Nhơn

056.3647105



Bình Thuận

109 Trần Phú, Phan Thiết

062.3816798



Bến Tre

8 Lê Lai – TX Bến Tre

075.3829676



15 Nguyễn Du - TX Bến Tre

075.3812805



Buôn Mê Thuột

142 Phan Bội Châu – TP Buôn Mê Thuột

050.3857784



Kiốt 34 - Khu chợ A – TP Buôn Mê Thuột

050.3857642



Cà Mau

81-Phạm Văn Ký - TP. Cà Mau

0780.3832366



Cần Thơ

148 Nguyễn Thái Học - Thốt Nốt - Cần Thơ

0710.3852082



56 Hai Bà Trưng-TP.Cần Thơ

0710.3823608



4 Lê Thánh Tôn-TP.Cần Thơ

0710.3820435



Cao Bằng

Kiốt Số 8, Quầy Cúc, chợ Trung Tâm - thị xã Cao Bằng

026.3853765



Đà Nẵng

325/1 Hùng Vương – TP Đà Nẵng

0511.3824826



282 Ông Ích Khiêm – TP Đà Nẵng

0511.3821301



Đồng Nai

1B Hùng Vương - Long Khánh

0613.3877829



51 Nguyễn Thượng Hiền - Biên Hoà

0613.827507



Đồng Tháp

50 Tháp Mười-Cao Lãnh

067.3852454



25 Nguyễn Du-Cao Lãnh

067.3851515



Gia Lai

25 Phan Đình Giót – TP PLayCu

059.3824343



Hà Nam

Quầy 27, ngã tư Quy Lưu – Trường Chinh, TP Phủ Lý

0904907606



Hà Nội

Trung tâm Y Dược Tinh Hoa



12 + 14 phố Nguyễn Như Đổ, phường Văn Miếu, quận Đống Đa

04.38438093



04.22005200



Hải Dương



17 Lý Thường Kiệt – TP Hải Dương

0945979614



Kios số 5 Bệnh Viện Đa Khoa tỉnh Hải Dương

0320.3258236



Hải Phòng



Nhà thuốc Bảo Linh, số 1 phố Nhà Thương – tp Hải Phòng

0313.951979



123 Nguyễn Đức Cảnh – TP Hải Phòng

0313.950080



Hoà Bình

296 tổ 25 Phương Lâm (296 Cù Chính Lan), TX Hoà Bình

0218.3853241



Huế



71 Phan Đăng Lưu – thành phố Huế

054.3523315



157 Trần Hưng Đạo-Huế

054.3522764



Hưng Yên

Nhà thuốc Tiến Tài, Dốc Lã - Bảo Khê - thị xã Hưng Yên

0321.3824165



Kiên Giang

49 Duy Tân -TX Rạch Giá

0773.3862520



Kon Tum

61A Hoàng Văn Thụ - Kon Tum

060.3864522



Lâm Đồng

11B Nguyễn Thị Minh Khai-Đà Lạt

063.3823266



Lào Cai

153A Hoàng Liên - thành phố Lào Cai

020.3820752



Long An

8 Lê Lợi - Tân An

072.3829262



Nam Định

Quầy thuốc số 2, quầy thuốc số 3 cổng Bệnh viện 1 – đường Trần Quốc Toản – thành phố Nam Định

0350.3839988



0350.3842436



Nghệ An

126 Trần Thủ Độ - TP Vinh

038.3592647



Nha Trang



63 Phùng Hưng – thành phố Nha Trang

058.3881902



328 Thống Nhất – thành phố Nha Trang

058.3827162



Ninh Bình

15 Hải Thượng Lãn Ông - thành phố Ninh Bình

030.3873029



Ninh Thuận

85 Trần Phú - Phan Rang

068.3824482



Phan Thiết

109 Trần Phú, Phan Thiết

062.3816798



Phú Thọ

574 đường Châu Phong – Việt Trì – Phú Thọ

0210.3844074



Phú Yên

63 Trần Hưng Đạo – thành phố Tuy Hoà - Phú Yên

057.3823532



Quảng Bình



483 Lý Thường Kiệt – thành phố Đồng Hới - Quảng Bình

052.3822679



10 Trường Chinh - thành phố Đồng Hới - Quảng Bình

052.3840373



Quảng Nam

31 Trần Cao Vân - Tam Kỳ - Quảng Nam

0510.3852995



Quảng Ngãi

Quốc lộ 1A- thị trấn Sơn Tịnh - Quảng Ngãi

055.3279996



Quảng Ninh

425 Lê Thánh Tông – thành phố Hạ Long

033.3826374



283 Nguyễn Văn Cừ - thành phố Hạ Long

033.3826814



Quảng Trị

Số 9 Trần Hưng Đạo – Đông Hà - Quảng Trị

053.3852759



Sóc Trăng

5A Trần Hưng Đạo – Sóc Trăng

079.3614969



16 Đồng Khởi-TX Sóc Trăng

079.3820511



Tây Ninh

Nhà thuốc Bắc Tòng Sơn. (chợ cũ Long Qua - B12/2 Khu phố 1) - TT Hoà Thành

066.3841593



Thái Bình

506 Lý Bôn – TP Thái Bình

036.3847370



204 Lý Thường Kiệt - TP Thái Bình

036.3732551



Thái Nguyên

14 Lương Ngọc Quyến, P. Quang Trung, TP. Thái Nguyên

0280.3852105



Thanh Hoá

234-236 Trần Phú – TP Thanh Hoá

0373.3720555



Tiền Giang

100A Lê Lợi – thị xã Gò Công - Tiền Giang

073.3842745



93 Trưng Trắc, Mỹ Tho

073.3872906



TP Hồ Chí Minh

180 Hải Thượng Lãn Ông, quận 5

08.38553745



Trà Vinh

119-Lê Lợi - TX Trà Vinh

074.3856479



Vĩnh Long

35 đường 1-5 Vĩnh Long

070.3829829



Vĩnh Yên

362 Hùng Vương - TP Vĩnh Yên

0211.3867753



Vũng Tàu

122 Hoàng Văn Thụ - Phường 7 - Vũng Tàu

064.3834567



11 Lê Phụng Hiểu - P.8 Vũng Tàu

0913.000030



Yên Bái

45 Đinh Tiên Hoàng – TP Yên Bái

029.3851889





Theo Việt Báo

Những bài thuốc tắm chữa viêm ngứa ngoài da

Trong vài năm gần đây, tình trạng viêm da dị ứng, mẩn ngứa, mày đay... có xu hướng ngày càng gia tăng. Nguyên nhân vô cùng phức tạp và biện pháp trị liệu cũng gặp không ít khó khăn.

Phòng phong
Trong y học cổ truyền, các biện pháp trị liệu chứng bệnh này hết sức phong phú như dùng thuốc (sắc uống, xông, xoa, bôi, đắp...) và không dùng thuốc (châm cứu, bấm huyệt...), trong đó có liệu pháp tắm ngâm hết sức độc đáo, còn gọi là dược dục liệu pháp. Bài viết này xin được giới thiệu một số công thức điển hình để bạn đọc tham khảo và vận dụng khi cần thiết.

Bài 1: Phòng phong 20g, ngải diệp 20g, khổ sâm 30g, kinh giới 20g, bạch tiên bì 20g, sà sàng tử 20g, đương quy 20g. Tất cả sắc với 4.000ml nước trong 20 phút, sau đó bỏ bã lấy nước, chế thêm nước nguội sao cho nhiệt độ vào khoảng 50oC là vừa, ngâm rửa vùng bị bệnh trong 30 phút, mỗi ngày 2 lần. Nếu ngứa toàn thân thì tăng liều lượng mỗi vị gấp đôi hoặc gấp ba, trẻ em thì giảm liều bằng nửa người lớn và để nguội hơn. Nếu ngứa nhiều có thể tăng lượng khổ sâm gấp đôi. Mỗi thang có thể dùng trong 2 ngày.



Bài 2: Dạ giao đằng 200g, thương nhĩ tử 100g, bạch tật lê 100g, bạch tiên bì 20g, sà sàng tử 20g, thuyền thoái 20g. Tất cả sắc với 5.000ml nước trong 20 phút, sau đó bỏ bã lấy nước, chế thêm nước lạnh cho độ ấm vừa phải, ngâm rửa bộ phận bị bệnh trong 30 phút. Tuỳ theo diện tích tổn thương mà tăng liều lượng cho phù hợp. Mỗi thang có thể dùng trong 2 ngày, mỗi ngày 2 lần.



Bài 3: Đương quy 30g, hoàng tinh 30g, khổ sâm 30g, địa phu tử 30g, sà sàng tử 20g, bạch tiên bì 20g, bạc hà 20g, băng phiến 10g, thấu cốt thảo 30g, hoa tiêu (Zanthoxylum bungeanum Maxim) 15g. Tất cả sắc với 5.000ml nước trong 20 phút, sau đó bỏ bã lấy nước, chế thêm nước lạnh cho độ ấm vừa phải, ngâm rửa vùng bị bệnh trong 20 - 30 phút, mỗi ngày 2 lần. Để tiện sử dụng, có thể sắc đặc cô thành viên, khi dùng hoà với nước sôi, chế thêm nước lạnh, tắm ngâm.



Bài 4: Ngải cứu 90g, hùng hoàng 6g, hoa tiêu 6g, phòng phong 30g. Tất cả sắc với 3.000 ml nước trong 15 phút, sau đó xông hơi vùng bị bệnh trong vài phút rồi bỏ bã lấy nước ngâm rửa tổn thương, mỗi ngày 2 lần. Tuỳ theo diện tích bị bệnh mà gia giảm liều lượng các vị thuốc cho phù hợp, trẻ em dùng 1/2 hoặc 1/3 liều người lớn.



Bài 5: Kinh giới 30g, phòng phong 30g, tử thảo 20g, thuyền thoái 20g, bạch tật lê 30g, bạch tiên bì 30g, khổ sâm 30g, sà sàng tử 30g, địa phu tử 30g, thổ phục linh 30g, thương truật 30g, hoàng bá 30g. Nếu mẩn ngứa do lạnh thì gia thêm hoàng kỳ 30g, quế chi 30g, tế tân 15g. Nếu mẩn ngứa do nhiệt thì gia thêm sinh địa 30g, xích thược 30g, đan bì 30g. Nếu ngứa dữ dội thì gia thêm ô tiêu xà 30g. Tất cả đem sắc với 5.000ml nước trong 15 - 20 phút, sau đó bỏ bã lấy nước, chế thêm nước lạnh cho đủ độ ấm, ngâm rửa bộ phận bị bệnh trong 20 - 30 phút, mỗi ngày 1 lần, 6 ngày là một liệu trình. Khi dùng cần kiêng ăn đồ sống lạnh, tôm cua cá ốc và các thức ăn có tính kích thích. Một nghiên cứu của Trung Quốc đã dùng bài thuốc này khảo sát trên 76 bệnh nhân, kết quả 64 ca khỏi, 12 ca có chuyển biến rõ rệt.

Chi khô sâm.

Bài 6: Khổ sâm 24g, phèn chua 12g, địa phu tử 30g, bạch tiên bì 24g, sà sàng tử 30g, kinh giới 12g, xuyên tâm liên 50g, ngân hoa đằng 50g, bách bộ 30g, bạc hà 12g. Tất cả đem sắc với 5.000 ml trong 30 phút, sau đó bỏ bã lấy nước, ngâm rửa vùng tổn thương, mỗi ngày 2 lần, mỗi lần 20 - 30 phút, 7 ngày là một liệu trình. Một nghiên cứu đã dùng bài thuốc này khảo sát trên 60 bệnh nhân, kết quả 45 ca khỏi, 15 ca có chuyển biến rõ rệt, so sánh với nhóm đối chứng dùng tân dược bôi ngoài hiệu quả cao hơn có ý nghĩa thống kê.

Bài 7: Khổ sâm 30g, địa du 20g, đại hoàng 20g, đại phi dương (hoa ban) 30g, địa phu tử 30g, sà sàng tử 20g, kinh giới 30g, phèn phi 15g, cam thảo 20g. Tất cả đem sắc với 4.000ml nước trong 20 phút, sau đó bỏ bã lấy nước, chế thêm nước lạnh cho vừa ấm rồi ngâm rửa trong 20 - 30 phút, mỗi ngày 2 lần. Công dụng: thanh nhiệt táo thấp, khứ phong giảm ngứa, chuyên dùng cho các bệnh lý có viêm ngứa ngoài da cấp tính.



Bài 8: Kinh giới 30g, phòng phong 30g, xuyên khung 20g, tô diệp 20g, hoàng tinh 30g, sà sàng tử 30g. Tất cả đem sắc với 3.000 ml nước trong 20 phút, sau đó bỏ bã, chế thêm nước lạnh cho đủ ấm rồi ngâm rửa nơi bị bệnh, mỗi ngày 2 lần, mỗi lần 20 - 30 phút.

Theo y học cổ truyền, mẩn ngứa ngoài da chủ yếu do hai nguyên nhân: (1) Do phong hàn hoặc phong nhiệt xâm nhập vào cơ thể, lưu lại ở da (gọi là cơ phu thể biểu) gây nên; (2) Do huyết hư mà sinh phong hoá táo, phong táo gây nên chứng ngứa. Bởi vậy, sử dụng dược dục liệu pháp cũng nhằm đạt được hai mục đích: (1) Nhờ sức nóng và sức thuốc mà làm tăng lưu thông huyết mạch, làm ra mồ hôi, theo đó mà tà khí cũng được bài trừ; (2) Tăng cường nuôi dưỡng da, làm cho da được nhu nhuận và kích thích các huyệt vị tại chỗ hoặc toàn thân qua đó đạt được mục đích dưỡng huyết, bổ âm và nhuận táo.


TS. Hoàng Khánh Toàn



Vietbao (Theo: SKĐS)
 
Home | Nhà đẹp | Trần Thạch Cao | Đá Granic | Sơn nhà| Rao Vặt | Email| ô tô | Call phone: +84987002345 | ATLĐ | Feed | Youtube | Facebook | Twitter | Google+ | Login | Register |