Showing posts with label Bệnh. Show all posts
Showing posts with label Bệnh. Show all posts

7 bài thuốc trị bệnh của Hành Tăm


(Kienthuc.net.vn) - Hành tăm (Allium schoenoprasum L.) gốc ở vùng lạnh Bắc bán cầu, được nhập trồng từ lâu đời ở các vùng nông thôn và miền núi, ngoài là gia vị còn là vị thuốc trị cảm mạo, bí tiểu, sâu bọ cắn rất tốt.

Trị cảm hàn: Hành tăm giã nhỏ hoà nước ấm uống trong và đánh gió bên ngoài.
Trị rắn độc và sâu bọ cắn: Dùng 7 củ hành tăm nhai nuốt nước lấy bã đắp vào nơi bị cắn cấp thời, rồi chạy thuốc khác.
Trị bí tiểu trướng đầy: Giã giập hành tăm sao nóng đắp lên vùng bàng quang.
Phòng cảm lạnh: Đi mưa về nhai một nắm hành tăm rồi nuốt với 1 chén rượu trắng.
Bị thương ứ máu: Dùng củ hành tăm nấu nước rửa, sau đó giã củ tươi rịt vào.
Trị cảm do thời tiết (nóng rét, đau đầu, ngạt mũi): Nấu cháo gạo tẻ, giã 20 củ hành tăm cho vào chảo, thêm 1 thìa giấm ăn khi còn nóng.
Trị cảm phong hàn, sốt không có mồ hôi, đau mình mẩy, nước tiểu trong, sợ gió: Dùng hành tăm và lá tía tô mỗi thứ 20 - 30g, thái nhỏ nấu cháo gạo ăn khi còn nóng, sau đó đắp chăn nằm cho ra mồ hôi.

ThS Thanh Tâm (Giám đốc Trung tâm Y tế Sơn Hà)

Tiêm phòng và theo dõi cho trẻ sau tiêm chủng

Tiêm phòng và theo dõi cho trẻ sau tiêm chủng

Các bậc phụ huynh cần phải tiêm phòng cho trẻ đầy đủ theo đúng lịch hẹn nhằm bảo vệ cho trẻ được phát triển toàn diện trong những năm đầu đời.

Lịch tiêm chủng theo chương trình tiêm chủng mở rộng

Hiện nay, ngoài chương trình tiêm chủng quốc gia, một số địa phương có tiêm chủng thêm một số loại sau:

1. Viêm màng não mủ do Heamophilus Influenza B (Hib) có thể chủng từ 2 tháng tuổi trở lên.Tùy theo tháng tuổi mà lịch tiêm nhắc lại khác nhau. Có thể kết hợp chủng Infanix hexa (6 loại: DTC, Polio, VGSVB, Hib), Pentaxim (5 loại: DTC, Polio, Hib), Tetract Hib (4 loại: DTC, Hib)…

2. Sởi - quai bị - rubeol (rubella) tiêm từ 15 tháng tuổi.

3. Thủy đậu (trái rạ) tiêm một mũi duy nhất từ 12 tháng tuổi.

4. Viêm não Nhật Bản B được chủng khi trẻ trên 12 tháng tuổi tiêm 3 mũi (mũi 1 và mũi 2 cách nhau 1 – 2 tuần, mũi 3 cách mũi 1 sau 1 năm) nhắc lại mỗi 3 năm.

5. Cúm: có thể tiêm từ 6 tháng tuổi trở lên.

6. Viêm màng não do Meningoccoci A + C (não mô cầu A + C).

7. Ngừa tiêu chảy do rotavirus: đối với trẻ từ 2 - 6 tháng tuổi (uống).

8. Ngừa viêm gan siêu vi A: tiêm từ 1 tuổi trở lên.

9. Ngừa thương hàn: đối với trẻ từ 5 tuổi trở lên…

Các phản ứng sau tiêm chủng cần biết

- Đau tại chỗ tiêm .

- Quấy khóc thường do đau.

- Sốt nhẹ hoặc cao trong vòng 24 - 48 giờ.

- Nổi nốt cứng hay nốt dưới da có thể xảy ra và tồn tại trong một hay vài tuần.

- Một số ít có biểu hiện nổi mẩn, ngứa, mề đay hoặc hồng ban.

- Có thể rối loạn tiêu hóa, chán ăn, mất ngủ dễ kích động, trẻ bứt rứt khó chịu thoáng qua.

Các dấu hiệu nặng sau tiêm chủng cần đưa trẻ đến cơ sở y tế gần nhất:

- Sốt cao trên 39oC.

- Co giật.

- Tay chân lạnh, tím tái.

- Thở khó, co lõm ngực .

- Bứt rứt, quấy khóc nhiều không đáp ứng thuốc giảm đau hạ sốt thông thường.

- Lừ đừ, bỏ bú.

- Sưng to, đỏ quanh chỗ tiêm.

Khi nào không chủng ngừa cho trẻ?

- Trẻ đang có bệnh cấp tính, viêm phổi, tiêu chảy… (thường biểu hiện sốt cao, mệt mỏi, ho hoặc tiêu chảy nhiều lần).

- Trẻ đang được điều trị các loại thuốc ức chế miễn dịch hoặc corticoide liều cao và kéo dài quá một tuần.

- Trẻ có phản ứng trầm trọng với thuốc chủng ngừa ở những lần chủng trước (tạm ngưng vài tháng và khi tiêm chủng nên tiêm từng loại vắc-xin một, không nên kết hợp nhiều vắc-xin cùng một lúc).

- Trẻ bị HIV(+) có triệu chứng suy giảm miễn dịch.

- Trẻ đang có bệnh ung thư, suy giảm miễn dịch bẩm sinh hay mắc phải.

Làm gì khi con bạn bị sốt sau tiêm chủng?

Nhiệt độ bình thường của trẻ từ 36,5oC - 37,4oC. Sốt khi nhiệt độ đo hậu môn trẻ từ 38oC trở lên.

Sốt thường là triệu chứng của bệnh nhiễm siêu vi, vi khuẩn, đôi khi không phải do nhiễm trùng như bệnh hệ thống, bệnh lý ác tính, sốt do thuốc, sau chích ngừa, sốt do môi trường…

Nên làm:

Cho trẻ uống nhiều nước; trẻ tiếp tục được ăn, uống bình thường; nằm phòng thoáng; uống thuốc hạ sốt khi nhiệt độ 38oC trở lên; lau mát tích cực với nước ấm.

Phương pháp lau mát: dùng 5 khăn: 1 đắp trán, 2 đắp nách, 2 đắp bẹn. Lau với nước ấm thấp hơn thân nhiệt của trẻ 2oC.

Theo dõi nhiệt độ mỗi 15 - 30 phút, chấm dứt lau mát khi nhiệt độ dưới 38,5oC.

PGS.TS.BS. Ngô Minh Xuân
Nguồn suckhoedoisong.vn

Cây Trinh Nữ Hoàng Cung chữa thoái hóa cột sống



Cây trinh nữ hoàng cung tên khoa học là Cranium Latifolium L. họ thủy tiên Amaryllidaceac hay tên khác là tỏi lơi lá rộng.

Đặc điểm thực vật, phân bố: Cây thảo, có thân củ, hình cầu, đường kính củ 10-20cm. Thân giả ngắn, nhỏ. Lá có bản rộng, gân lá hình cung gắn song song, phiến lá rộng 6-11cm, dài 60-90cm, mép lá hơi ráp. Cụm hoa tán, trục phát hoa dài 60cm, có 10-20 hoa màu trắng, hoa hình ống hơi cong, dài 7-10cm, có chĩa thủy, phiến dài bằng ống. Cây ra hoa vào tháng 3-4, thường mọc ở tràng cỏ, cây bụi tại Biên Hòa – Đồng Nai hay Bà Rịa.

Cách trồng: cây dễ trồng, nhân giống bằng các thân cành (củ) tách ra.

Bộ phận dùng, chế biến: lá tươi hay phơi khô, thu hái quanh năm.


Công dụng, chủ trị: 


1. Chữa đau khớp, chấn thương tụ máu:

Lá Trinh nữ hoàng cung lượng vừa đủ, xào nóng, băng đắp nơi đau.

Củ trinh nữ hoàng cung 20g, dây Đau xương 20g, Huyết giác 20g, lá Cối xay 20g, Cam thảo dây 6g. Sắc uống ngày một thang.

Củ Trinh nữ hoàng cung nướng cho nóng, đập dập, băng đắp nơi sưng đau (Kinh nghiệm Ấn độ).


2. Chữa ho, viêm phế quản:

Lá trinh nữ hoàng cung 20g, Tang bạch bì 20g, Xạ can 10g, Cam thảo dây 6g. Sắc uống ngày một thang, chia 2-3 lần trong ngày.

Lá Trinh nữ hoàng cung 20g, lá Bồng bồng 12g, lá Táo chua 12g, Cam thảo dây 6g. Sắc uống ngày một thang, chia 2-3 lần uống trong ngày.


3. Chữa u xơ tuyến tiền liệt (đái không thông, đái đêm, đái buốt, đái dắt ở người cao tuổi).

Lá Trinh nữ hoàng cung 20g. Sắc uống ngày một thang, chia 2-3 lần uống trong ngày.

Lá Trinh nữ hoàng cung 20g, hạt Mã đề (Xa tiền tử) 12g, Cam thảo dây 6g. Sắc uống ngày một thang, chia 2-3 lần trong ngày.

Lá Trinh nữ hoàng cung 20g, Huyết giác 20g, rễ Cỏ xước 12g, dây Ruột gà (Ba kích sao muối 10g), Cam thảo dây 6g. Sắc uống ngày một thang, chia 2-3 lần uống trong ngày.


4. Chữa u xơ tử cung (đau bụng dưới, có thể rong kinh, rong huyết, ra máu âm đạo…).

Lá Trinh nữ hoàng cung 20g. Sắc uống ngày một thang, chia 2-3 lần uống trong ngày.

Lá Trinh nữ hoàng cung 20g, Hạ khô thảo 20g, rễ Cỏ xước 12g, Hoàng cầm 8g, Cam thảo dây 6g. Sắc uống ngày một thang, chia 2-3 lần uống trong ngày.

Lá Trinh nữ hoàng cung 20g, Huyết giác 20g, Ích mẫu 12g, Ngải cứu tươi 20g, lá Sen tươi 20g, Cam thảo dây 6g. Sắc uống ngày một thang, chia 2-3 lần uống trong ngày.

Lá Trinh nữ hoàng cung 20g, lá Trắc bách sao đen 12g, Cam thảo dây 6g. Sắc uống ngày một thang.


5. Chữa mụn nhọt:

Lá hoặc củ Trinh nữ hoàng cung, lượng vừa đủ, giã nát (hoặc nướng chín) đắp lên mụn nhọt khi còn nóng.

Lá Trinh nữ hoàng cung 20g, Bèo cái 20-30g, Cam thảo dây 6g. Sắc uống ngày một thang, chia 2-3 lần uống trong ngày.

Lá Trinh nữ hoàng cung 20g, Kim ngân hoa 20g. Cam thảo dây 6g. Sắc uống ngày một thang, chia 2-3 lần uống trong ngày.


6. Chữa dị ứng mẩn ngứa:

Lá Trinh nữ hoàng cung 20g, Kim ngân hoa 20g, Ké đầu ngựa 12g, Cam thảo dây 6g. Sắc uống ngày một thang, chia 2-3 lần uống trong ngày.

Chú ý: Hiện nay trong nhân dân có nhiều người nhầm lẫn cây trinh nữ hoàng cung với một số cây náng khác, đặc biệt là cây Náng hoa trắng (Crinum asiaticum L.), sử dụng lá đun sôi lấy nước uống bị ngộ độc, nôn ói. Do đó phải phân biệt rõ cây Trinh nữ hoàng cung với các cây náng khác có tại Việt Nam.
Nguồn từ thoaihoacotsong.vn

Tự xoa bóp chữa nhức đầu

Xoa bóp là một kiểu kích thích vật lý, trực tiếp tác động lên da thịt và các cơ quan cảm thụ của da và cơ gây ra những ảnh hưởng về thần kinh, về thể dịch, về nội tạng từ đó ảnh hưởng đến toàn bộ cơ thể.
[Image]
Ảnh minh họa.
Các kiểu xoa bóp
Véo: Dùng ngón tay cái, ngón tay trỏ hoặc đốt thứ hai của ngón cái và đốt thứ ba của ngón trỏ kẹp và kéo da lên. Hai tay làm liên tiếp làm cho da được xoa bóp luôn luôn như bị cuốn giữa các ngón tay của thầy thuốc.
Phân: Dùng đầu các ngón tay hoặc mô của ngón tay áp út của hai tay, từ cùng một chỗ rẽ ra hai bên ngón hướng trái ngược nhau.
Hợp: Dùng đầu các ngón tay hoặc mô ngón út của hai tay, từ hai chỗ khác nhau đi ngược chiều và cùng đến một chỗ, tay của người làm như ở thủ thuật phân.
Day: Dùng gốc bàn tay, mô của ngón út, mô của ngón cái hơi dùng sức ấn xuống da của người được xoa bóp và di chuyển theo vòng tay của người thực hiện.
Ấn: Dùng ngón tay cái, gốc của bàn tay, mô của ngón út hoặc mô ngón cái ấn vào một nơi nào hoặc vào huyệt.
Miết: Dùng đầu ngón tay cái miết chặt vào da của người được xoa bóp theo hướng lên hoặc xuống, sang phải hoặc trái.
Bóp: Dùng ngón tay cái và các ngón tay kia bóp thịt hoặc gân ở nơi bị bệnh. Vừa bóp vừa hơi kéo thịt lên, không nên để thịt hoặc gân trượt dưới tay vì làm như vậy gây đau.
Chặt (đấm): Nắm tay: các ngón tay hơi nắm vào nhau (chú ý khoảng cách giữa các ngón tay và giữa hai bàn tay có một khoảng rỗng) dùng mô của ngón út đấm vào chỗ bị đau.
Thao tác xoa bóp chữa nhức đầu
- Để người được xoa bóp ngồi thoải mái (trường hợp không ngồi được thì nằm). Người làm đứng hoặc ngồi đối diện với người được xoa bóp.
- Véo, miết hoặc phân hợp vùng trán:
- Nếu dùng thủ thuật véo: véo dọc trán từ điểm giữa đường kẻ nối đầu trong hai lông mày (huyệt ấn đường) lên chân tóc rồi lần lượt véo sang hai bên từ huyệt ấn đường tỏa ra như nan quạt giấy trên trán.
- Nếu dùng thủ thuật miết: Dùng hai ngón tay cái miết từ huyệt ấn đường tỏa ra hai bên thái dương, làm sát lông mày trước rồi làm dần lên cho hết trán. Nếu dùng thủ thuật phân hợp: dùng hai ngón tay cái phân hợp cả vùng trán một lúc.
- Véo lông mày: Từ huyệt ấn đường véo ra hai bên 3 lần một cách nhẹ nhàng, sau đó véo tại huyệt ấn đường 5 lần.
- Day huyệt thái dương: 5 lần. Miết từ huyệt thái dương (điểm nối của đường kéo dài cuối lông mày và đuôi mắt dịch ra một thốn) vòng qua tai ra sau gáy làm từ 3-5 lần.
- Vỗ đầu: Hai bàn tay úp đối diện nhau (một bàn tay úp vùng trán, một bàn tay úp vùng chẩm sau gáy) vỗ quanh đầu theo hai hướng ngược nhau, vỗ 2-3 vòng.
- Gõ đầu: các ngón tay của hai bàn tay xòe ra, dùng rìa của ngón út bàn tay gõ vào đầu theo hướng từ trước lên trên và ra sau, gõ khắp đầu một lượt.
- Ấn huyệt bách hội: (giao điểm của đường thẳng nối 2 điểm cao nhất của hai tai đi qua đỉnh đầu và đường thẳng đi từ trục mũi qua đỉnh đầu). Dùng ngón tay cái vừa ấn vừa day theo chiều kim đồng hồ 10 cái. Bóp nhẹ nhàng 2 cơ thang ở cổ và chỗ trũng hai bên gáy (huyệt phong trì) từ 3-5 cái.
Kết thúc các thao tác trên, để bệnh nhân nằm nghỉ 30 phút, nếu bệnh nhân mệt nhiều thì không nhất thiết phải làm đầy đủ các thao tác mà chỉ làm vài ba thao tác cũng được.
 
Sau khi làm người thường thấy thoải mái dễ chịu và đỡ hẳn, nhưng sau đó cơ thể lại thấy đau trở lại cần phải kiên trì, không được nản chí thì mới có kết quả.
 
Theo GiaDinh

2 toa thuốc trị Tiểu Đường


Lời dặn:
Quý vị nên theo dõi số lượng nước lá dứa uống mỗi lần và nên đo lượng đường thường xuyên trong giai đoạn mới uống lá dứa, như vậy bạn có thể gia giảm số lượng nước lá dứa theo căn bệnh của mình, và tránh đừng để lượng đường xuống thấp quá, nhất là lúc đang lái xe, đang tắm, đang ngủ, sẽ rất nguy hiểm.
Nên mang theo kẹo ngọt, nước ngọt trong túi để ăn ngay khi bị xuống đường.
Hạn chế hoặc tránh uống lá dứa vào buổi chiều tối, để tránh bị đường xuống thấp vào ban đêm lúc đang ngủ.
Nên ăn nhiều bữa trong ngày, khoảng 4 tiếng cho mỗi buổi ăn chính và 2 tiếng cho bữa ăn vặt, phụ trội, nên ăn các rau xanh và  xu hào, bắp cải, bí, đậu đũa, xúp lơ, trái bơ (avocado), có thể ăn mì sợi vàng, miến làm từ đậu xanh, bánh mì nâu toàn phần (wholewheat). gạo lức (gạo nâu)
Tránh ăn các trái cây ngọt như: mít, chuối, xoài, hồng chín, mãng cầu...
Tránh ăn thức ăn tinh bột trắng như: cơm trắng, bún trắng, bánh mì trắng
=================

1. Toa thuốc 1

Uống Lá Dứa - Tin Vui Mới 5-12-2007
Sau 3 năm uống Tim Sen, sự hiệu nghiệm của Tim Sen giảm dần, tôi phải uống trở lại thuốc tây ! !
Sau 3 năm uống Tim Sen, sự hiệu nghiệm của Tim Sen giảm dần, tôi phải uống trở lại thuốc tây ! !
Một sự tình cờ, TRỜI đă ban cho gia tộc chúng tôi !

Người em gái thứ 5 lúc về Việt Nam, mang Lá Dứa qua Tây Đức để làm bánh. Nhưng không làm, lại tiếc của, lấy lá Dứa đem phơi khô nhưng còn thấy màu xanh, nấu nước uống cho thơm, nào ngờ đâu đo thử Đường lại quá tốt, tốt chưa từng thấy !

Em Năm báo cho Em Sáu của tôi biết sự việc đă xảy ra như thế.
Em Sáu bắt đầu dùng Lá Dứa và Kết Quả quá tốt . Trước đó phải chích Insulin, bây giờ không cần chích Insulin nữa có thể ăn cơm nhiều hơn trước.

Được tin tốt ấy, tôi bắt đầu uống Lá Dứa và bỏ thuốc tây . Tôi cũng đạt được kết quả Tuyệt Vời .

Theo sự hướng dẫn của tôi, bà Trần Vũ Bản vừa báo cho tôi là bà uống Lá Dứa cũng đạt kết quả tốt.


Lá Dứa là loại lá có mùi thơm khi bỏ vào cơm hay chè. Lá Dứa mua về rửa sạch đem phơi khô nhưng vẫn còn thấy màu xanh.

Mỗi lần nấu chừng 10 lá Dứa, cắt nhỏ ra, với 2.5 lít nước, khi thấy còn lại chừng 2 lít là có thể dùng được.
Với 2 lít nước lá Dứa nầy uống hết trong 1 ngày. Uống trước mỗi bữa ăn chừng 20 phút.
Nếu 1 ngày ăn 3 lần th́ mỗi lần uống 0.7 lít nước lá Dứa. Uống 1 tuần lễ mới bắt đầu có kết quả.

Tất cả 10 anh em trong gia đình chúng tôi uống Lá Dứa đều đạt được kết quả TỐT .

Chúc các bạn có bệnh Tiểu Đường uống lá Dứa có Kết Quả TỐT.

Uống Lá Dứa là quan trọng, NHƯNG kiêng cử trong ăn uống còn quan trọng hơn nhiều. Một điều quan trọng nữa là Tập Thể Dục.
Mỗi ngày nên tập thể dục nhẹ khoảng 30 phút thí dụ như đi bộ hay chạy bộ.

Khi có Kết Quả Tốt, Xin Thông Báo cho tôi rất Cám Ơn .

KT61 Nguyễn Văn Bảnh 259 Westmoreland Ave, Toronto, Ontario, CANADA Tel: 416-533-6757
Email:
mailto:nguyen6757@ rogers.com
 -----------------------------------------------------------------------------------------------------------
2. Toa thuốc 2


Nhân chuyến đi Canada vào cuối tháng 4 vừa qua. Tôi có ghé Seattle ở lại Thiền Viện Minh Chánh một đêm, tôi đã được gặp thầy Kiên Tánh . Thầy nói chuyện lúc trước Thầy bị đường nặng ghê lắm có khi đo lên tới 1,200 phải chích Insulin ngày 2 lần, sau đó Thầy được người ta chỉ cho phương cách này . Thầy theo đó và bây giờ Thầy không phải uống thuốc nữa mà có khi đường xuống chỉ còn dưới 50 nên lúc nào, đi đâu Thầy cũng phải mang kẹo theo .
 
          Vật liệu :
          - Hột hạnh nhân (ALMOND) của Tàu có bán ở các chợ Tàu và Việt Nam. Có 2 loại một loại gọi là BẮC và một loại gọi là NAM. Loại BẮC ăn thì đắng (bitter), loại NAM thì bình thường.
 
          Công thức như sau :
          
1 - mua một gói 6 oz loại BẮC - Đại Bắc Hạnh Nhân 大 北 杏 仁

2 - mua 2 gói mổi gói 6 oz loại NAM - Trung Nam Hạnh 中 南 杏
 
           Cách làm :  Đem 2 loại BẮC và NAM trộn chung lại với nhau cho đều, rồi cho vào nồi với một lít nước nấu kỷ, rồi đem ăn vào mổi bữa cơm như ăn canh. Ăn cả nước lẫn cái . Một công thức chia ra làm 4 năm lần nấu.
 
           Tôi đã thử ngay sau khi tôi đi chơi về. Nhưng có một cái trở ngại là khi ra chợ Việt Nam tôi chỉ thấy bán có một loại thôi . Thầy dặn tôi ra chợ mua thì rẽ hơn nên tôi làm theo nhưng khi ra chợ thi chỉ có một loại mình không biết cái nào gọi là BẮC cái nào gọi là NAM nen tôi trở về tiệm thuốc Bắc quen ở gần nhà. Tôi hỏi mua thi có liền và ông chủ tiệm giải thích cho tôi là Bắc thi đắng Nam thi không đắng. Giá cũng rẻ lắm chỉ có $4.50 USD một pound thôi.Tôi liền mua cho 3 phần một lúc. Tôi nói ông cần mổi phần 1 gói 6 oz Bắc và 12 oz Nam. Tôi đem về nấu liền, uống thì hơi đắng như mình ăn trái hủ qua vậy đó.
 
Nhưng còn cái hột thì nó cứng lắm chứ không nhừ ra như hạt sen. Hôm sau tôi cho vào máy xay sinh tố xay ra nhưng ăn cũng không trôi. Tôi liền nhớ ra hôm cô bán hàng lúc cân cho tôi cô nói với tôi là có 2 vợ chồng người Mỹ mổi lần họ tới  là mua 5 pound một lần và cứ ăn sống như vậy . Tôi hỏi cô ta họ có nói ăn để chửa gì không ? Cô ta nói họ nói ăn để chữa cancer thế là tôi bắt chước theo, từ hôm đó mổi ngày tôi nhai ăn sống. Sáng một muỗng canh, chiều một muỗng canh thay vì tôi nấu. Nếu muốn xuống nhanh thi ăn nhiều hơn lên, nhưng tôi ăn từ từ sợ ăn nhiều một lúc đường xuống nhiều quá cũng dễ bị trở ngại .    
 
Kết quả : một tuần này tôi đo đường sáng nào cũng dưới 100 mặc dù bữa cơm chiều tôi ăn tới 2 chén cơm, thêm mổi ngày ăn 2 ly sữa chua mổi ly 8 oz . Thuốc thì bớt đi nữa viên mổi ngày, nếu đường đo xuống thì sẽ từ từ bớt thuốc .
 
Lúc tôi chưa ăn hạnh nhân thì tôi uống đủ thuốc, không dám ăn cơm, không ăn ngọt mà đo đường lúc nào cũng ở mức từ 120 đến 150.  Bạn nào có bị tiểu đường thì hảy thử đi . Không đắt tiền mà cũng dễ dàng xử dụng. Không nhai được thì cứ nấu rồi uống nước như canh theo Thầy nói.
 
HL
"TUYEN Tran" <hongloan307@yahoo.com>

3. Thêm Toa thuốc trị tiểu đường bằng rau má
Thêm Toa thuốc rau má trị tiểu đường,

Có nhiều vị mách bảo dùng rau má tươi xay ra uống (uống không, không bỏ đường), mỗi ngày hai hoặc ba ly. Tùy bịnh nặng hay nhẹ, nên điều chỉnh số lượng uống mỗi ngày cho thích hợp. Rất hiệu quả,
www.QuanTheAmBoTat.com
(Sưu tầm)
--End---

Chữa đau bụng kinh bằng y học cổ truyền


Chua dau bung kinh bang y hoc co truyen
Ngải cứu có tác dụng chữa đau bụng kinh.
Những phụ nữ hay bị đau bụng khi hành kinh có thể khắc phục tình trạng này bằng cách tự tạo lập một cuộc sống tinh thần thoải mái. Trước và trong kỳ kinh, nên tránh ăn các đồ sống lạnh, ưu tiên các thực phẩm có tính ấm như trứng gà, đường đỏ, thịt dê, thịt lợn, nấm, mộc nhĩ...
Đau bụng kinh (thống kinh) là tình trạng đau bụng vùng hạ vị, xuất hiện trước, trong hoặc sau khi hành kinh. Theo y học cổ truyền, nguyên nhân gây bệnh là sự mất điều hòa trong lưu thông khí huyết ở 2 mạch Nhâm và Xung; khí huyết bị cản trở, ứ tắc lại mà gây đau. Sau đây là một số bài thuốc giúp điều trị bệnh này:
1. Thống kinh thể thực chứng: Bệnh nhân đau vùng hạ vị (trước và trong kỳ kinh); đau tức, chướng hoặc quặn thắt, ấn vào vùng hạ vị thì cảm giác đau tăng. Lượng kinh ít, sắc đỏ tím sẫm, có thể có máu bầm đen.
- Lá ngải cứu tươi 50 g (khô 30 g), gạo tẻ 100 g. Rửa sạch ngải cứu, thái vụn, cho vào nồi, đổ nước xâm xấp, đun khoảng 30 phút, bắc ra chắt lấy nước. Dùng nước chắt nấu cháo với gạo tẻ. Cháo chín thêm đường đỏ, đun sôi vài lượt là ăn được. Ăn nóng, ngày vài lần.
- Đậu đen 30 g, hồng hoa 6 g, đường đỏ 30 g. Đậu đen rửa sạch, rang thơm, cho vào nồi cùng hồng hoa, đổ khoảng 400 ml nước, đun sôi rồi để nhỏ lửa tới khi đậu chín nhừ. Lọc lấy nước, cho thêm đường đỏ, uống ngày 2 lần, mỗi lần 10-20 ml, uống trong 3 ngày trước kỳ kinh.
- Lá ngải cứu loại bánh tẻ 9 g, sinh khương (gừng tươi) 15 g, trứng gà 2 quả. Ngải cứu rửa sạch, thái nhỏ; gừng tươi rửa sạch, đập giập, đổ 300 ml nước, cho trứng gà vào luộc, khi trứng chín thì bóc vỏ, cho vào đun tiếp với dịch thuốc trong 5 phút. Uống nước thuốc, ăn trứng gà. Mỗi ngày ăn 1 lần, ăn trong 3 ngày trước kỳ kinh.
- Hương phụ 8 g, thanh bì 6 g, ô dược 8 g, ích mẫu 12 g, sa nhân 6 g, ngưu tất 12 g. Sắc uống ngày 1 thang, uống liên tục trước khi hành kinh khoảng 3 ngày.
- Xuyên tiêu 10 g, can khương 30 g, đại táo 30 g. Tất cả ngâm nước trong 1 giờ, đại táo cắt bỏ hạt, gừng thái lát, cho 400 ml nước vào đun sôi, rồi cho xuyên tiêu vào đun tiếp trong 10 phút, bắc ra chắt lấy nước uống nóng, chia 2 lần/ngày.
2. Thống kinh thể hư chứng: Bệnh nhân đau bụng âm ỉ vùng hạ vị, thường đau sau khi hành kinh, xoa bóp thì đỡ. Người mệt mỏi, sắc mặt nhợt, lượng kinh ra ít, màu kinh nhợt.
- Gà ác 1 con khoảng 1-1,5 kg, hoàng kỳ 100 g. Gà làm sạch, bỏ hết phủ tạng; hoàng kỳ rửa sạch, thái lát, nhồi vào bụng gà. Cho gà vào nồi, thêm 1.000 ml nước, đun sôi rồi vặn nhỏ lửa hầm tới khi gà chín nhừ, thêm mắm muối. Ăn thịt gà, uống nước hầm. Ăn trước khi hành kinh khoảng 3 ngày.
- Đương quy 90 g, gừng tươi 150 g, thịt dê 500 g. Đương quy, gừng tươi rửa sạch, thái lát nhỏ; thịt dê làm sạch, lọc bỏ màng mỡ, dùng nước nóng rửa sạch hết huyết đọng, thái miếng dài. Cho nước vào đun sôi, vớt bỏ váng bẩn, vặn nhỏ lửa hầm trong 1 giờ tới khi thịt dê chín nhừ là được. Ăn thịt, uống nước hầm (dùng hết trong 1 bữa). Ăn liên tục trong 3 ngày trước khi hành kinh.
- Bạch truật 10 g, đẳng sâm, hà thủ ô, long nhãn, kỷ tử, ý dĩ, bạch biển đậu mỗi thứ 12 g; kê huyết đằng, hoài sơn, ngưu tất mỗi thứ 16 g. Sắc uống ngày 1 thang, uống trước khi hành kinh khoảng 3 ngày.
Sức Khoẻ & Đời Sống

Trị viêm xoan

Việc tắm hơi nước nóng dưới vòi hoa sen (chừng 5-10 phút một lần) đem lại cho bệnh nhân viêm xoang hai tác dụng: vừa được tắm sạch người, vừa được hít hơi nóng làm thông xoang, thông mũi.

Viêm xoang là một bệnh thường gặp, nhất là khi mùa mưa tới, hay mắc đi mắc lại. Triệu chứng gồm:

  • Nhức đầu vùng xoang trán, giữa hai lông mày, trong tư thế đứng hay ngồi.
  • Chảy nước mũi, lúc đầu dịch loãng trong (thường gặp trong viêm xoang do dị ứng), sau đó dịch đặc màu vàng hoặc xanh. Dịch có thể chảy ra theo đường mũi hoặc chảy xuống họng làm bệnh nhân phải luôn khạc nhổ.
  • Ho từng cơn vào ban đêm khiến người bệnh mất ngủ.
  • Ngạt tắc mũi có thể từng lúc hoặc liên tục, kèm theo hắt hơi cũng làm cho bệnh nhân mất ngủ.
Xử trí viêm xoang theo Đông y
Tại chỗ: Trong viêm xoang, niêm mạc vùng xoang bị viêm sung huyết, tăng tiết chất nhầy làm tắc nghẽn sự lưu thông không khí bình thường của xoang, nên tất cả mọi biện pháp cũng đều nhằm làm phục hồi sự dẫn lưu của các xoang. Điều này rất quan trọng vì khi các xoang được thông sẽ ngăn chặn được sự ứ đọng các chất tiết gây nhiễm khuẩn.
Hít hơi nóng: Mục đích là duy trì nhu động cho nhung mao niêm mạc xoang, giúp chất nhờn được lưu thông và các xoang được dẫn lưu. Cách mà dân gian hay làm là mua một ít lá xông trong đó có bạc hà về nấu, xông cả người hoặc múc ra một bát lớn nước xông tỏa hơi, hít hơi nóng bốc lên, đầu phủ một khăn tắm lớn. Có thể thay thế bó lá xông bằng nhỏ một vài giọt dầu gió hoặc dầu có bạc hà, quế vào một bát nước sôi cũng có tác dụng tương tự.
Rửa hốc mũi bằng nước muối sinh lý: Bệnh nhân bị viêm xoang nên rửa từng bên mũi bằng nước muối sinh lý 0,9% có bán tại các nhà thuốc, hay tự pha một thìa cà phê muối vào hai tách nước ấm kèm theo một nhúm bicarbonat. Rót nước muối vào một bát đủ rộng, ngửa đầu ra sau, bịt một bên lỗ mũi, hít nước vào lỗ mũi bên kia, rồi nhẹ nhàng hỉ mũi ra. Đổi bên lỗ mũi và cũng làm tương tự.
Hỉ mũi đúng cách: Người bị viêm xoang hay khụt khịt do cảm thấy chất nhầy tiết ra. Để giúp chất nhầy dễ thoát ra ngoài xoang, nên hỉ mỗi lần từng bên lỗ mũi, giúp tống vi khuẩn ra ngoài. Không nên hỉ cả hai bên lỗ mũi cùng một lúc vì sẽ làm tăng áp suất ở tai trong, đưa ngược vi khuẩn vào sâu hơn trong xoang. Khi hỉ mũi, nên dùng khăn hoặc giấy vệ sinh dùng một lần rồi vứt bỏ.
Massage và đắp nước nóng tại chỗ hai bên sống mũi giữa hai lông mày, có thể đắp khăn mặt nóng lên mắt, trán, hai gò má nếu xoang vùng đó đau. Ngoài ra, có thể người bệnh tự bấm huyệt vừa có tác dụng lưu thông máu ở vùng xoang đó vừa giảm đau.
Một số cách bấm huyệt:
  • Dùng hai ngón tay bấm, sau đó day hai huyệt nghinh hương (nằm cách hai bên cánh mũi khoảng nửa phân) 1-2 phút cho đến khi cảm thấy nặng tức ở huyệt vị. Sau đó trở ngón tay, dùng mặt bên bấm khoảng giữa hai bên mũi nơi tiếp giáp xương và phần mềm, bấm nhẹ 1-2 phút.
  • Hai tay vuốt từ dưới lên dừng lại ở hai huyệt nghinh hương, bấm khoảng 3 phút, sau đó dùng mặt trong hai ngón cái vuốt từ giữa trán đến chân tóc hai bên khoảng 10-20 lần, đồng thời bấm hai huyệt thái dương (nằm ở chỗ lõm hai bên thái dương, cách hai bên đuôi mắt khoảng 1-1,5 phân).
  • Dùng hai ngón trỏ vuốt xung quanh hốc mắt, mũi tắc, bấm khoảng giữa hai bên mũi, day huyệt nghinh hương, nhân trung (nằm rãnh nhân trung giữa hai lỗ mũi) 3-10 phút.
Một số món ăn bài thuốc:
  • Lá dâu 9 g, hoa cúc 6 g, hạnh nhân ngọt 6 g, gạo tẻ 50 g. Sắc thuốc lá dâu và hoa cúc, bỏ cặn lấy nước nấu cháo với hạnh nhân và gạo tẻ, mỗi ngày một thang, dùng liên tục vài lần.
  • Mai rùa (quy bản) 15 g, thục địa 9 g, trần bì 6 g, mật ong liều lượng thích hợp. Cho các vị thuốc vào sắc rồi uống với mật ong, mỗi ngày một thang, dùng 5-10 thang liên tục.
Sưu tầm

PHUƠNG PHÁP DAY- ẤN HUYỆT CHỮA BỆNH VIÊM XOANG

I: XOA MŨI.
a/ Dùng 2 ngón trỏ và giữa xoa mũi từ dưới lên và từ trên xuống cho ấm đều, đồng thời thở vô ra cho mạnh độ 10 - 20 lần. (Hình 21, 21a).
b/ Ðể ngón tay chỗ giáp giới giữa xương mũi và xương sụn mũi, day huyệt độ 10 - 20 lần.(Hình 21b).
c/ Dùng ngón tay trỏ bên này áp vào cánh mũi bên kia, xoa mạnh độ 10 - 20 lần. (Hình 21c).
d/ Dùng 2 ngón tay trỏ ấn mạnh vào huyệt Nghinh hương (ngoài cánh mũi,trên nếp má - môi) và day huyệt ấy độ 10 - 20 lần.(Hình 21d).
e/ Vuốt để lỗ mũi và bẻ đầu mũi qua lại. (Hình 21e).
II: XOA XOANG VÀ MẮT
a/ Xoa xoang :
Chuẩn bị : Dùng 2 ngón tay trỏ và giữa của 2 bàn tay đặt lên phía trong lông mày.
Ðộng tác : Xoa vòng tròn từ phía trong lông mày ra phía ngoài xuống dưới gò má, vỏ mũi, đi lên phía trong lông mày và tiếp tục 10 - 20 lần, xoa các vòng có xoang xương hàm trên và xoang trán, xoa vòng ngược lại 10 - 20 lần.  (Hình 20).

b/ Xoa mắt :
Chuẩn bị : Nhắm mắt lại và đặt 2 ngón tay giữa lên 2 con mắt .
Ðộng tác : Xoa mi mắt trong vòng hố mắt vừa sức chịu đựng của mắt, xoa mỗi chiều 10 - 20 lần.

c/ Bấm huyệt chung quanh nhãn cầu :
Dùng ngón cái bấm huyệt phía trong và phía trên hố mắt và dùng ngón trỏbấm huyệt phía ngoài và phía dưới hố mắt, có tác dụng giúp khí huyết lưu thông trong hố mắt.
Cách rửa mũi:

Dung dịch rửa: NaCl 0,9% (mua ở nhà thuốc hoặc tự pha: 1 muỗng cà phê muối trong 1 lít nước đun sôi để nguội). 1 syringe 20ml (mua ở nhàthuốc) tháo bỏ kim.
Bạn ngồi ngửa mặt trước lavabô, bơm nhẹ nhàng 20 ml dịch rửa vào 1 lỗ mũi trong lúc miệng kêu kê, kê, kê... liên tục (để nước không chảy xuống miệng), khi đã bơm hết thì cúi mặt xuống lavabô và xì mũi để nướcchảy hết ra. Làm 4-5 lần cho mỗi bên mũi. Ngày rửa 3-4 lần (=> mất khoang 30 phút/ngày). Sau khi rửa mũi xong bạn xịt steroid tại chỗ (1đến 2 lần/ngày tuỳ biệt dược).
Rửa mũi như trên là một phương pháp đơn giản nhưng rất hiệu quả cho bệnh nhân bị các bệnh mũi xoang => đã được áp dụng rất nhiều ở châu Âu và Mỹ.

Mỹ phẩm hướng tới cây cỏ tự nhiên đâu là thật, giả?


Từ thời tiền sử, con người đã biết dùng mỹ phẩm, khi đó mỹ phẩm không chỉ hạn chế để làm đẹp mà còn được dùng trong các nghi lễ tô giáo và chữa bệnh. Người ta đã tìm thấy trong các lăng tẩm của thời Ai Cập cổ đại các lọ cao và phấn. Người Babilon từ thế kỉ thứ 5 trước Công Nguyên đã có nước hoa và son môi.
Người Hy Lạp  đã biết nhuộm tóc, tô môi, lông mày bằng các nước rễ  cây… Người Châu Âu sau đó làm quen vơí mỹ phẩm của phương đông qua các chiến sỹ của cuộc Thập Tự Chinh. Cho đến nay, xã hội hiện đại đang ngày càng phát triển mạnh mẽ và đa dạng các chủng loại mỹ phẩm. Sự phát triển cuả mỹ phẩm  được thuận lợi nhờ sự phát triển nhanh chóng của hoá học, đặc biệt là  các chất hữu cơ . Tuy nhiên, bên cạnh các ưu điểm, hoá chất không thể tránh khỏi các hạn chế nhất định, đặc biệt là khả năng  gây hại cho sức khoẻ, nhất là khả năng gây dị ứng, kích ứng, nếu chúng ngày cáng hướng về sử dụng các cây cỏ tự nhiên đã được kiểm chứng từ lâu đời, vừa an toàn cho sức khoẻ, vừa thực sự có tác dụng làm đẹp.
            Từ lâu đời, người ta đã biết dùng qủa bồ kết để chế nước gội đầu, vừa sạch gầu vừa làm khoẻ da đầu. Nếu thêm vào nước gội đầu một miếng vỏ bưởi, một nắm cỏ màn trầu thì người ta tin rằng tóc sẽ mọc khoẻ hơn, và nếu sau gội, xả lại bừng nước chanh tươi thì người ta tin rằng tóc sẽ mọc khoẻ hơn,  da đầu đỡ ngứa hơn …Cho đến bây giờ, người Mông Cổ vùng núi cao vẫn giứ thói quen từ lâu đời là ngâm mình trong nước sắc của Bạch quả để làm đẹp da và tăng cường sức khoẻ. Phụ nữ Thái Nguyên ở Tây Bắc thì vẫn thích gội đầu bằng nước gạo chua hơn là dùng Sampoo. Ngay phụ nữ ở thành phố vẫn còn dùng nước dưa chuột, củ đậu để dưỡng da mặt hơn là dùng các loại sữa rửa mặt.
            Tuy nhiên việc sử dụng trực tiếp các chất chiết xuất từ cây cỏ tự nhiên bị một hạn chế là mất thời gian để chế biến, và đôi khi không dễ tìm mua được nguyên liệu. Với nhịp sống hiện đại, người ta cần sự tiện dụng hơn cả. Nắm bắt được điều này, các nhà sản xuấ mỹ phẩm cũng tìm cách đưa các chiết  xuất từ cây cỏ tự nhiên vào mỹ phẩm . Tuy nhiên việc bổ sung những chất chiết xuất tự nhiên đủ để không mắc tội lừa dối khách hàng kho họ nêu tên các chất này trên bao bì đủ mọi laọi cây cỏ tự nhiên mà người tiêu dùng vẫn thường ngưỡng mộ. Có lẽ họ nghĩ rằng người tiêu dùng chẳng thể phát hiện ra được sự có mặt của các chất  đó khi maù sắc và hương thơm củahoá chất đã che lấp hết thảy.
            Vậy người tiêu dùng phải làm gì để nhận biết đâu là thật, đâu là  giả? Đây chính là chỗ họ cần tới sự giúp đỡ của Hội người tiêu dùng. Ở nhiều nước, hội bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng có thể đến kiểm tra các nhà sản xuất xem họ có thực sự sử dụngnhững chất như họ tuyên tố trên bo bì hay không, bởi vì người tiêu dùng không thể tự mình tìm ra được điều này bằng mắt thường. Việc kiểm tra chẳng khó khăn gì, bởi những nhà sản xuất lớn, ngiêm túc, sẽ sẵn sàng xuất trình các bằng chứng về các chất màhọ đang bổ sung  thêm vào mĩ phẩm. Chỉ các các nhà sản xuất mỹ phẩm dởm, nhái,  mới  e ngại trước sự kiểm tra này.
 

Bài thuốc cổ truyền chữa ho, đau họng


  Những nguyên liệu dễ kiếm như: gạo thơm, nước mía, quả dâu, quả la hán... có tác dụng rất hữu hiệu trong việc điều trị bệnh về đường hô hấp như ho, đau họng, viêm họng... và những bệnh ngoài da khác
Cháo bách hợp, hạnh nhân: Bách hợp tươi 50g, hạnh nhân 10g, gạo thơm 50g. Gạo thơm vo sạch cho nước nấu cháo, cháo sắp được cho bách hợp, hạnh nhân bỏ vỏ vào, cháo nấu loãng cho đường gia giảm. Công hiệu: nhuận phế khỏi ho. Dùng cho các chứng bệnh ho phổi khô, viêm khí quản… Ngày ăn hai lần.

Cháo sơn dược (củ mài), hạnh nhân: Sơn dược 100g, hạnh nhân 200g, kê 100g, một ít bơ. Sơn dược nấu chín, kê sao qua, hạnh nhân sao chín bỏ vỏ, cắt nhỏ. Mỗi lần lấy 10g hạnh nhân bột, sơn dược, kê vừa đủ hòa với nước sôi để nguội, cho một ít bơ là được. Dùng cho chứng bệnh tỳ hư thể nhược, phế hư, ho lâu… Ngày ăn một lần.
Cháo hoàng tinh (củ dong): Hoàng tinh 30g, gạo thơm 100g, đường trắng vừa đủ. Hoàng tinh rửa sạch, cho nước nấu bỏ bã lọc lấy nước trong. Cho gạo thơm vo sạch vào, thêm nước nấu cháo loãng. Cháo chín cho đường vừa đủ. Công hiệu: Bổ tỳ vị, nhuận tâm phế, bổ trung ích khí. Dùng cho các chứng tỳ vị hư nhược, cơ thể mệt mỏi, ăn uống kém, phế hư, ho khan hoặc ho khan không đờm, lao  phổi ho máu… Ngày một bát chia ăn vài lần, 3 – 5 ngày một liệu trình.
Bài thuốc cổ truyền chữa ho, đau họng, Sức khỏe, Chua benh duong ho hap, benh duong ho hap, ho hap, ho ,dau hong, qua dau, hanh nhan, gao thom, la han, chin tuoi, dau tuoi
Củ dong
Cháo nước mía: Nước mía 100 – 150g, gạo thơm 50g. Gạo thơm vo sạch, cho vào nồi 300ml nước nấu cháo loãng, sau đó cho nước mía vào, đun nhỏ lửa cho đến khi được cháo. Công hiệu: Thanh nhiệt, bồi bổ sức khỏe, nhuận táo khỏi ho… Dùng cho các chứng ho hư nhiệt, phiền nhiệt, miệng khát, chứng nôn, đi ngoài táo bón. Ăn ngày hai lần.

Cháo quả la hán: Quả la hán 50g, thịt lợn nạc xay nhỏ 50g, muối dầu ăn vừa đủ, gạo thơm 100g. Quả la hán cát miếng nhỏ, cho gạo thơm đãi sạch vào nồi, cho một lít nước vào đun sôi, cho thịt lợn, quả la hán vào, cháo chín cho muối, dầu ăn vào là được. Công hiệu: Thanh phế tiêu đờm, tiêu thử giải khát, lợi hầu nhuận tràng. Dùng cho các chứng ho đờm hỏa, ho bách nhật, táo bón, viêm họng mạn tính, viêm khí quản… Ngày 1 kê huyết đằng 13g, rượu trắng 1 thìa con (15ml). Cho tất cả vào nồi nấu lấy nước bỏ bã. Ngày 1 thang, uống trong 5 – 7 ngày.

- Đau họng: Quả dâu chín ăn khoảng 20g quả để bổ dưỡng. Ép nước súc miệng chữa các chứng đau ở miệng, họng.

- Phù thũng: Một nắm cành dâu băm nhỏ, đổ ngập nước đun còn một nửa bỏ bã – một lượng quả dâu chín bằng lượng cành nấu nhừ lọc bỏ bã cô đặc, đường, ít rượu. Ngày uống 2 thìa canh, hòa nước cơm uống trước bữa ăn.
Bài thuốc cổ truyền chữa ho, đau họng, Sức khỏe, Chua benh duong ho hap, benh duong ho hap, ho hap, ho ,dau hong, qua dau, hanh nhan, gao thom, la han, chin tuoi, dau tuoi
Quả dâu chín tươi có rất nhiều lợi ích chữa bệnh
- Ra nhiều mồ hôi, mồ hôi trộm: Quả dâu chín, ngũ vị tử. Mỗi loại 10g sắc kỹ đến khi còn ½ - Uống ngày 1 lần.

- Viêm khớp: Quả dâu chín tươi 100g, rượu trắng (gạo hoặc nếp ngon). Dâu rửa sạch, giã nát gói vào túi vải ngâm vào rượu 3 – 5 ngày. Uống mỗi lần 20 – 25ml. Quả dâu chín 250g, cành dâu 150g, chùm gửi 100g. Ngâm rượu uống.

Quả dâu dùng ngoài

- Tóc khô gãy rụng nhiều: Quả dâu chín tươi đem giã nhuyễn, lấy cả nước và cái xoa xát lên đầu tóc.

- Bỏng, vết thương chảy máu: Quả dâu chín tươi rửa sạch, ép lấy nước, bôi, rửa, đắp.

- Nấm, hắc lào: Quả dâu chín tươi 60g. Giã nát lấy bôi xoa xát lên chỗ tổn thương.

Một số món ăn có quả dâu


- Quả dâu tươi chín, đậu đen, rau cần, lượng bằng nhau ninh nhừ ăn nóng, chữa rụng tóc, huyết áp cao.

- Dâu hấp trứng: mứt dâu 25g, trứng gà 2 quả, cùi đào 30g, mì chính, xì dầu, mỡ lợn. Tất cả đánh trộn đều hấp chín.

- Dâu xào thịt: Dâu tươi 200g, thịt thăn lợn 300g, lòng trắng trứng gà 2 quả. Bột ướt, rượu, muối, mì chính, dầu lạc, gừng, hành, tỏi. Cách làm như sau: Dâu bỏ cuống, thịt thái miếng nhỏ, ướp muối, lòng trắng trứng đánh bột, tỏi băm bắc chảo, cho dầu, hành, tỏi cho thơm, cho các thứ vào xào. Khi thịt trắng thì cho dâu vào cùng mì chính, rượu, muối đảo chín.
(Theo Sức khỏe & Đời sống)

Cà leo gai-Cây thuốc độc đáo bảo vệ gan


             Theo kinh nghiệm của dân gian, Cà gai leo dùng chữa ngộ độc rượu rất tốt. Nghiên cứu của các nhà khoa học lại cho thấy, cà gai leo có tác dụng trên hệ miễn dịch, trên tế bào ung thư…
Gan – “nhà máy lọc chất độc” của cơ thể
Gan không được bảo vệ sẽ bị xơ gan, ung thư
Mặc dù rất quan trọng cho sức khỏe nhưng gan ít được mọi người chú ý bảo vệ, có hàng triệu người trên thế giới hàng ngày tàn phá gan bằng rượu và thuốc lá hoặc các hóa chất độc hại. Các tế bào gan không được bảo vệ sẽ dẫn đến xơ gan và ung thư gan. Việt Nam là nước có tỷ lệ ung thư gan đứng thứ 2 thế giới.
Các nguyên nhân gây phá hủy tế bào gan do tiến trình viêm mãn tính như: Các siêu virus B, A, C, D, E và ký sinh trùng, rượu, các chất độc như thuốc trừ sâu, hóa chất bảo quản bị cấm, thuốc…Nguyên nhân thường gặp nhất của xơ gan là rượu. Tất cả những người uống rượu nhiều và thường xuyên đều có nguy cơ bị xơ gan. Thời gian uống rượu càng lâu khả năng tổn thương tế bào gan và phát triển thành xơ gan càng cao.
Khi gan suy yếu, khả năng giải độc giảm, nồng độ các chất độc trong cơ thể tăng lên rõ rệt và là nguyên nhân gây nên nhiều bệnh như ung thư, mỡ máu, tiểu đường, hôn mê gan, giảm trí nhớ, nám da, sạm da...
PNJ ƯU ĐÃI ĐẾN 15% CHO BST TRANG SỨC VALENTINE
Do ảnh hưởng quan trọng của gan với sức khỏe vậy nên rất cần phải bảo vệ tế bào Gan hàng ngày bằng cách hạn chế tối thiểu các độc tố đưa vào cơ thể, nhất là các độc tố gây hại trực tiếp cho gan như rượu, thuốc lá, hóa chất bảo quản thực phẩm…mặt khác phải tăng cường chức năng giải độc và bảo vệ tế bào gan. Có gần 50 nghiên cứu về hóa thực vật từ 101 loại cây thuốc có liên quan đến bảo vệ gan như Diệp hạ châu, Cúc gai (sylimarin), Núc nác, Sài hồ bắc, Cam thảo, Tam Thất, Nhân Sâm…
Cà leo gai và tác dụng đối với gan
Thời gian qua, cây cà leo gai được nghiên cứu bài bản kỹ lưỡng và được các nhà khoa học Việt Nam và thế giới đánh giá là tốt nhất về tác dụng giải độc gan. Tên khoa học là Solanum hainanense Hance Solanaceae. Cây cà leo gai còn có tên khác là Cà gai dây, cà vạnh, cà quýnh, cà lù, gai cườm.
Bộ phận dùng: Rễ, cành lá và cả quả, thu hái quanh năm, rửa sạch, thái nhỏ, phơi hay sấy khô. Có khi dùng tươi.
Theo kinh nghiệm của dân gian Cà gai leo dùng chữa ngộ độc rượu rất tốt. Tác dụng bảo vệ tế bào Gan mạnh đến nỗi khi uống rượu chỉ cần chà răng hoặc nhấm rễ Cà gai leo thì sẽ tránh được say, nếu bị say thì uống nước sắc của rễ hoặc thân lá sẽ nhanh chóng tỉnh rượu, ngoài ra còn dùng chữa rắn cắn, đau nhức xương khớp.
Cây cà leo gai
Cách sử dụng: Rễ, thân, lá, phơi khô sắc uống hoặc đun uống thay nước hàng ngày, ngày dùng 100g
Đã có nhiều công trình nghiên cứu về Cà gai leo. Điển hình như đề tài: “Nghiên cứu thuốc từ Cà gai leo làm thuốc chống viêm và ức chế sự phát triển của xơ gan” - Đề tài cấp nhà nước do TS. Nguyễn Thị Minh Khai làm chủ nhiệm đã chứng minh tác dụng bảo vệ gan, ức chế sự phát triển xơ gan của dạng chiết toàn phần và bộ phận hoạt chất chính glycoalcaloid.
Nghiên cứu này đã chứng minh tác dụng chống viêm và tác dụng antioxydant rất tốt của cà gai leo (dạng toàn phần và dạng chiết glycoaloid). Đã xác định độc tính cấp và độc tính bán trường diễn của cà gai leo. Thử trên tác dụng trên lâm sàng trên 60 bệnh nhân viêm gan B mãn hoạt động kết quả điều trị ở nhóm dùng Cà gai leo đạt mức rất tốt và tốt 66.7%, ngược lại ở nhóm chứng (Flacebo) chỉ ở mức trung bình và kém 93.3%, thuốc không gây tác dụng ngoài ý muốn.
Đề tài “Nghiên cứu điều trị hỗ trợ bệnh nhân viêm gan virus B mãn tính thể hoạt động bằng thuốc từ Cà gai leo” (lâm sàng giai đoạn 3) được thực hiện thử lâm sàng trên 90 bệnh nhân viêm gan B mãn tính thể hoạt động (VGMHĐ) với liều 0,25g, uống 6 viên/ngày, trong 2 tháng so sánh với 90 bệnh nhân nhóm chứng, tại 3 bệnh viện 103, 354 và 108, khẳng định, thuốc có tác dụng giảm nhanh các triệu chứng lâm sàng mệt mỏi, đau tức hạ sườn phải, nước tiểu vàng, da niêm mạc vàng… Transaminase và bilirubin về bình thường nhanh hơn sơ với nhóm đối chứng.
Sau điều trị những biến đổi về các Marker của virus viêm gan B là rõ rệt tại 3 bệnh viện 103, 354, 108 (theo thứ tự) là: Mất HBsAg 5,6% (0%, 16,7%, 0%); chuyển đảo huyết thanh 37,8% (23,3%, 26,7%, 63,3%); HBV-DNA<5 copier/ml 62,9% (40%, 6/7 BN, 66,7%). Tại Viện 103: giảm nồng độ HBV-DNA 52%, nồng độ trung bình HBsAg giảm: 5589+358, so với nhóm chứng các tỷ lệ này tại cả 3 bệnh viện là: 0%; 11,1%; 6,3%; 16,7% và 6418-312 với P<0,05.
Tại Viện 103, 7 bệnh nhân được điều trị kéo dài 6 tháng kết quả có 1 bệnh nhân mất BsAg và xuất hiện Anti HBs. Thuốc không gây một tác dụng ngoài ý muốn nào trên lâm sàng và xét nghiệm.
Đề tài “Nghiên cứu lâm sàng tổn thương gan do tiếp xúc nghề nghiệp với TNT và tác dụng bảo vệ gan của Cà gai leo trên thực nghiệm” – Luận án Tiến sĩ Dược học 1997 đi đến kết luận: Dịch chiết cây cà gai leo có tác dụng bảo vệ gan chuột dưới ảnh hưởng độc của TNT với các khả năng: hạn chế tăng trọng lượng gan do nhiễm độc; ngăn chặn thoái hoá mỡ và hiện tượng chảy máu vi thể trong nhu mô gan; làm giảm sự huỷ hoại tế bào và tan rã nhu mô gan, do đó bảo tồn được cấu trúc nan hoa của tiểu thuỳ gan.
Đề tài: “Nghiên cứu cây Cà gai leo làm thuốc chống viêm gan và ức chế xơ gan” – Luận án Tiến sĩ dược học 2002 đã thử tác dụng của dạng chiết toàn phần và glycoalcaloid Cà gai leo trên mô hình chống viêm mạn, trên colagenase, mô hình xơ gan thực nghiệm, tác dụng chống oxy hoá. Kết quả cho thấy, dạng chiết toàn phần và glycoalcaloid cà gai leo làm giảm trọng lượng u trên mô hình u hạt thực nghiệm theo thứ tự 42,2% và 35,2%.
Cả hai chế phẩm trên đều có tác dụng trên men colagenase. Dạng chiết toàn phần làm giảm hàm lượng colagen gan trên mô hình gây xơ gan là 27,0% còn dạng glycoalcaloid là 27,6%. Hoạt chất chống oxy hoá (HTCO) in vivo là 47,5% .
Kết quả trên đã chứng minh glycoalcaloid là hoạt chất chính có tác dụng ức chế sự phát triển xơ gan, chống viêm, bảo vệ gan trong cao toàn phần của cà gai leo.
Nghiên cứu đã phát hiện những tác dụng dược lý mới của cà gai leo như tác dụng trên hệ miễn dịch, trên tế bào ung thư, cũng như thử tác dụng trên gen gây ung thư của virus và gen ức chế ung thư p53 và Rb…
Theo_VietNamNet

Đông y trị gan nhiễm mỡ

Theo y học cổ truyền: gan nhiễm mỡ được mô tả với những chứng trạng sau: vùng hạ sườn phải đầy trướng, da vàng da sạm, hoa mắt chóng mặt, tiêu hóa chậm, phân thường bị bạc màu, rối loạn tiêu hóa, nước tiểu vàng sậm, lượng ít; có một triệu chứng rất kín đáo: gan to dần. Tùy mức độ và cơ địa người bệnh, gan nhiễm mỡ có thể dẫn đến xơ gan, làm rối loạn các chức năng sinh lý của gan.

Nguyên nhân phần nhiều do ăn uống không điều độ, tinh thần không thư thái, rượu chè quá mức, sinh ra can khí uất kết, thấp nhiệt ứ đọng, đàm ẩm, cả khí cả huyết đều trở trệ. Để chữa trị, Đông y có các bài thuốc cho từng thể lâm sàng.
Thể thấp nhiệt uất kết


- Triệu chứng: hạ sườn phải trướng đầy khó chịu, miệng khô họng đắng, da vàng hoặc sạm, mắt khô, nước tiểu vàng, lượng ít, ăn uống kém, tiêu hóa trì trệ, gan mất chức năng sơ tiết.
- Nguyên tắc điều trị: lợi thấp thanh nhiệt, nhuận gan giải uất.
Bài 1: Đan bì 10g, chi tử 12g, ngân hoa 12g, thổ linh 16g, rau má 20g, bạch thược 12g, sài hồ 12g, cúc hoa 10g, trạch tả 10g, cỏ mực 16g. Ngày 1 thang, sắc 3 lần uống 3 lần.
Bài 2: Nhân trần 12g, hạ liên châu 12g, củ đợi 12g, xích thược 12g, bạch truật 12g, xa tiền 10g, hương phụ 12g, trần bì 12g, sinh địa 12g, nam hoàng bá 16g, bồ công anh 16g, chỉ xác 10g, cam thảo 12g. Ngày 1 thang, sắc 3 lần uống 3 lần.
Cây nhân trần và vẩy con tê tê (xuyên sơn giáp) là hai vị thuốc tốt trị gan nhiễm mỡ.
Thể đàm thấp trở trệ
- Triệu chứng: vùng hạ sườn phải đầy chướng, da sạm da tối, cơ thể nặng nề chậm chạp, đau nhói vùng gan, người mệt mỏi, sờ gan ở bờ sườn phải có thể phát hiện gan to, làm cả vùng bụng căng đầy.
- Nguyên tắc điều trị: hóa đàm, hoạt huyết, thông kinh lạc
- Phương dược:
Bài 1: Bán hạ 10g, hậu phác 10g, hồng hoa 10g, tô mộc 20g, đương quy 12g, sơn trà 12g, nhân trần 12g, cây chó đẻ 12g, mẫu lệ (chế) 12g. Ngày 1 thang, sắc 3 lần uống 3 lần.
Bài 2: Bạch linh 10g, ích mẫu 16g, kê huyết đằng 12g, xuyên khung 12g, thạch xương bồ 16g, đinh lăng 16g, chỉ xác 10g, bán hạ chế 10g, xa tiền 12g, đương quy 12g, trần bì 10g, sơn trà 12g. Ngày 1 thang, sắc 3 lần uống 3 lần. Xuyên khung, ích mẫu: hoạt huyết; Bạch linh, bán hạ: trừ đàm thấp; Xương bồ, đương quy: thông kinh hoạt lạc; Trần bì, xa tiền có tính thông hoạt trừ ứ... Nếu gan to có thể gia thêm xuyên sơn giáp 8g, mẫu lệ chế 10g.
Thể can tỳ lưỡng hư
- Triệu chứng: đau âm ỉ ở vùng hạ sườn phải, bụng đầy trướng, đại tiện phân không thành khuôn, người mệt mỏi, váng đầu, bụng lạnh, ăn uống rất kém, chân tay không có lực.
- Nguyên tắc điều trị: Ôn bổ tỳ dương, dưỡng can lý khí
Bài 1: Hoàng kì 10g, bạch truật 12g, hậu phác 12g, đương quy 12g, bán hạ 10g, sinh khương 6g, bạch thược 10g, sài hồ 12g, chích thảo 12g, đan bì 10g, trạch tả 10g, củ đợi 12g. Ngày 1 thang, sắc 3 lần uống 3 lần. Bạch truật, hậu phác, sinh khương: bổ tỳ dương; Củ đợi, bạch thược, sài hồ: dưỡng can hòa can, thăng đề dưỡng khí. Bài này bổ trung châu, bổ thổ, phù hợp với những triệu chứng: Bụng đau âm ỉ, phân lỏng, chân tay lạnh, dày da bụng, váng đầu hoa mắt, cơ thể suy nhược, da vàng sạm.
Bài 2: Nhân trần 12g, hạ liên châu 12g, bạch truật 12g, cao lương khương 12g, biển đậu 12g, sinh khương 6g, trần bì 12g, sơn trà 12g, ngũ gia bì 15g, chỉ xác 10g, đan sâm 15g, bạch linh 12g, chích thảo 12g. Ngày 1 thang, sắc 3 lần uống 3 lần.
Trong điều trị cần hết sức quan tâm đến vấn đề ẩm thực. Khuyên bệnh nhân mắc bệnh này dùng các loại rau quả có vị chua. Theo đông y vị chua cải thiện được chức năng gan mật, tăng tiết dịch mật, tốt cho tiêu hóa. Đó là những thứ rau quả thường dùng như: quả khế, quả me, quả chanh, chua me đất...
Lương y Trịnh Văn Sỹ
Theo : SK&ĐS

Thuốc giúp tăng trí nhớ




nhansam
Có một trí nhớ tốt là mơ ước của mọi người nhất là học sinh, sinh viên và những người lao động trí óc, đặc biệt là những người đứng trên bục giảng. Nhưng, vì nhiều lý do khác nhau như thiên bẩm, thể chất, tuổi tác, môi trường sống, điều kiện giáo dục, chế độ ăn uống... nên khả năng ghi nhớ của mỗi người cũng khác nhau. Để  bảo vệ và tăng trí nhớ, thuốc cổ truyền cũng đóng một vai trò quan trọng.
Viễn chí: Ở nước ta có tới 11 loài viễn chí được dùng làm thuốc. Bộ phận dùng là vỏ của rễ. Rễ được ủ mềm, rút bỏ lõi, rồi đem chích với nước sắc cam thảo hoặc sao vàng... Viễn chí có tác dụng ích trí, an thần,  dùng trong các trường hợp tâm thần bất an, trí nhớ suy giảm, hay quên. Ngoài ra còn có tác dụng hóa đờm chỉ ho, khai khiếu, làm thính tai, sáng mắt. Có thể phối hợp với một số vị thuốc khác để giúp cho trí nhớ minh mẫn hơn: Viễn chí, đảng sâm, bạch truật, liên nhục, long nhãn, hắc táo nhân, mạch môn, mỗi vị 10g, sắc uống, ngày một thang, uống liền 3 tuần lễ. Bài này thích hợp cho những người kém ăn, kém ngủ mà trí nhớ suy giảm.


Hoặc viễn chí, liên tâm, táo nhân (sao đen), thảo quyết minh (sao đen), mạch môn, huyền sâm, chi tử, mỗi vị 12g, sắc uống ngày một thang. Uống liền 3 tuần. Bài này thích hợp cho những người cơ thể ở trạng thái nhiệt, háo khát, táo bón, tâm hồi hộp, mất ngủ trí nhớ suy giảm.
Lưu ý: Những người có thai không nên dùng các bài thuốc có viễn chí vì thành phần saponin trong viễn chí có tác dụng gây co thắt tử cung, dễ ảnh hưởng đến thai nhi.
Long nhãn.
Long nhãn: Là cùi quả, có tác dụng ích trí, an thần, được dùng trong các trường hợp trí nhớ suy giảm, hay quên. Còn có tác dụng bổ huyết, dùng khi cơ thể thiếu máu, da xanh, gầy. Khi dùng có thể phối hợp với hoàng kỳ, đương quy... hoặc phối hợp với cao ban long trong cổ phương "Nhị long ẩm": Long nhãn 32g, cao ban long 32g. Cách dùng: long nhãn nấu kỹ với nước, vắt lấy một bát nước (300 ml), nhân lúc còn nóng, cho các miếng cao ban long vào, quấy cho tan đều. Uống ấm, cách 2 ngày uống một lần. Phương thuốc này tốt cho những người trí nhớ suy giảm, hay quên, kém ăn, kém ngủ, ra nhiều mồ hôi trộm, hay sốt về chiều, đại tiện táo kết, sắc mặt vàng vọt, da khô, phụ nữ lượng kinh nguyệt ít.
Nhân sâm: Là vị thuốc bổ khí, đứng đầu trong 4 vị quý nhất của Đông y (sâm, nhung, quế,  phụ), có tác dụng "định thần ích trí", tức làm cho tinh thần  ổn định và tăng trí nhớ, giúp  tăng sức đề kháng của cơ thể. Dùng dưới dạng thuốc hãm, thuốc sắc, thuốc rượu, dùng riêng hoặc phối hợp với các vị thuốc khác trong cổ phương "Thiên vương bổ tâm đan": nhân sâm 8g, sinh địa 6g, đan sâm 8g, huyền sâm 8g, bạch linh 8g, ngũ vị tử 12g, cát cánh 8g, đương quy 12g, thiên môn 12g, mạch môn 12g, bá tử nhân 12g, toan táo nhân (sao đen) 12g. Phương này có thể bào chế dưới dạng viên hoàn,  ngày dùng 2-3 lần, mỗi lần  12-16 g, uống với nước ấm, hoặc dùng dưới dạng thuốc sắc, ngày một thang. Uống 2 tuần liền. Phương thuốc thích hợp cho những trường hợp tâm huyết bất túc, tinh thần bất an, thiếu máu, tim hồi hộp, mất ngủ, hay quên, trí nhớ suy giảm.
Lưu ý: Những người hay sôi bụng, đi ngoài phân nát không nên dùng phương thuốc này.
GS.TS. Phạm Xuân Sinh
Theo : SK&ĐS

Chữa ho, dưỡng da lúc giao mùa

Trời dần chuyển sang mùa đông, lúc này các bệnh như ho, khô da do thời tiết rất hay gặp. Dưới đây là những món ăn, những bài thuốc dân gian, cổ truyền theo lương y Như Tá, lương y Trần Khiết giúp chữa những tình trạng nói trên.
Dưỡng da
* Hạt sen nấu long nhãn
Nguyên liệu: Một ít hạt sen (độ 20-30g), một ít nhãn nhục (8-10g), 30g vị thuốc khiếm thực, 50g vị thuốc dĩ nhân, một muỗng canh mật ong.
Cách làm: Cho tất cả các nguyên liệu trên (trừ mật ong) vào nồi cùng 3 chén nước (độ 750 ml), nấu với lửa nhỏ trong một giờ, sau đó cho tiếp mật ong vào là có thể dùng được. Công hiệu của món ăn bài thuốc này là: giúp nhuận da, giúp cải thiện tình trạng da khô ráp khi tiết trời se lạnh.
 Tắc (trái) là vị thuốc chữa ho do thời tiết, long nhãn
* Cúc hoa nấu mật ong
Nguyên liệu: 30g cúc hoa còn tươi, 2 muỗng canh mật ong.
Cách làm: Cho cúc hoa tươi vào nồi cùng 3 chén nước, nấu sôi, sau khi gần đặc lại thì thêm vào mật ong để làm thành dạng cao. Mỗi lần dùng lấy 15g đem pha với nước sôi (khuấy đều trước khi dùng), có công dụng giúp làn da sáng, chống da khô, lão hóa.
* Hạnh nhân cam thảo
Nguyên liệu: Hạnh nhân, ma hoàng (mỗi thứ 10g), 30g ý dĩ nhân, và 3g chích cam thảo.
Cách làm: Các vị thuốc trên đem sắc (nấu) với 3 chén nước, nấu còn lại 1 chén, chia làm 3 lần dùng trong ngày, dùng trước mỗi bữa ăn, giúp làn da trắng, không bị thô ráp trong mùa lạnh.
Chữa ho

* Xà lách xoong nấu gừng tươi
Nguyên liệu: 10g cải xà lách xoong, 50g lá tía tô, mấy lát gừng tươi.
Cách làm: Cho tất cả nguyên liệu vào nồi, cùng 750 ml nước, nấu (sắc) còn lại 250 ml, chia làm 3 lần dùng hết trong ngày; có công dụng chữa ho, nhất là ho do thời tiết chuyển mùa.
* Vỏ quýt nấu với cải xoong
Nguyên liệu: 30-40g trần bì (vỏ quýt), 100g cải xà lách xoong.
Cách làm: Cho cả hai loại vào nồi cùng 750 ml nước, nấu với lửa nhỏ, nấu còn lại 250 ml, chia làm 3 lần dùng hết trong một ngày.
* Tắc chưng đường phèn
Nguyên liệu: 5-6 trái tắc vừa chín tới, một ít đường phèn.
Cách làm: Cắt tắc làm đôi cho vào chén cùng đường phèn, rồi đem chưng cách thủy đến khi thấy chén tắc ra nhiều nước là được (cũng có thể đem chưng vào nồi cơm, khi cơm vừa cạn). Có thể cho vào thêm một ít bông khế còn tươi, dùng trị ho khi chuyển mùa sẽ rất hay. Cách làm tương tự, nhưng thay tắc bằng chanh (chanh cắt lát khoanh tròn thật mỏng) cũng được. 

Bài thuốc trị nước ăn chân hiệu quả

Mỗi khi mưa lớn, lũ về, ngoài việc thiệt hại về người và tài sản, lũ còn gây nhiều bệnh tật cho người dân vùng lũ...
Trong đó nước ăn chân cũng là bệnh rất thường gặp và gây rất nhiều phiền hà cho người dân vùng lũ. Nếu để nước ăn chân nhiều ngày, các kẽ chân bị loét sâu, có nguy cơ nhiễm khuẩn... Do vậy, nước ăn chân cũng được coi như một bệnh thường trực của những người dân vùng lũ, cần được xử lý kịp thời.

Những vị thuốc và bài thuốc trị nước ăn chân có hiệu quả

Trước hết cần phải rửa thật sạch nơi bị bệnh bằng nước sạch hoặc dùng nước muối ăn, pha loãng, rửa ấm, cũng có thể dùng nước sắc của cây bạc hà hoặc củ gừng tươi, rửa ấm, lau khô; rồi tiến hành dùng một số các vị thuốc, bài thuốc sẵn có để chữa trị.

Rau sam tươi lấy phần cây trên mặt đất, khoảng 50-100g tươi, rửa sạch, để ráo nước, cắt nhỏ, giã nát, thêm chút muối ăn, trộn đều, rồi cho tất cả vào mảnh vải gạc sạch, chấm nhẹ vào nơi tổn thương, khô lại chấm. Làm nhiều lần, chỗ loét khô se lại và hết ngứa. Mỗi ngày làm một lần như vậy, sẽ cho kết quả tốt.
Cóc mẳn: Cây cóc mẳn hay còn gọi là cúc mẳn. Lấy phần cây trên mặt đất, khoảng 50g, rửa sạch, cắt nhỏ... rồi cũng làm như vị rau sam. Cũng có thể sau khi chấm hết dịch thì lấy ngay bã của thuốc nhét vào các kẽ chân, cần thiết thì băng lại cho miếng thuốc khỏi bị rơi. Mỗi ngày làm một lần như vậy, sẽ cho kết quả tốt.

Búp ổi: Dùng búp cây ổi tươi, khoảng 50g, cách làm tương tự như các vị thuốc trên.
Bài thuốc sinh cơ tán: Bạch phàn (còn gọi là phèn chua), bằng sa (hàn the), berberin đồng lượng. Đem phèn chua và hàn the cho vào chảo gang nung lên cho bay hết hơi nước, sẽ trắng và xốp ra. Đem tán thành bột mịn trộn với bột berberin, đóng lọ kín dùng dần.

Cách dùng: Trước hết cũng được rửa sạch nơi bị nước ăn, như trên, lau khô. Lấy ít bột trên ra một mảnh giấy sạch hoặc một cái chén sạch, rồi lấy tăm bông chấm vào bột này rồi bôi đều vào nơi bị nước ăn chân. Ngày bôi nhiều lần. Với hỗn hợp bột này sẽ làm cho chỗ bị nước ăn hết ngứa, da nhanh khô, tổ chức cơ dưới da nhanh chóng được hồi phục và chỗ loét nhanh lành. Hoặc có thể dùng riêng phèn phi, hoặc berberin, tán mịn rắc vào nơi tổn thương cũng có kết quả. 
(Sưu tầm)

Món ăn bài thuốc hỗ trợ điều trị thoái hóa khớp

Thoái hoá khớp gối là những biến đổi của hiện tượng lão suy dẫn tới tăng sinh chất xương và hình thành “gai xương”. Đây là một bệnh rất thường gặp ở tuổi trung niên và người cao tuổi.
Biểu hiện khớp gối đau, đi lại khó khăn thường phải chống tay vào mới đứng được, nhất là khi lên xuống cầu thang, khi ngồi xuống đứng lên. Những triệu chứng này sau khi được điều trị và nghỉ ngơi thì có thể giảm nhiều. Nhưng nếu lại lao động quá độ hoặc thời tiết âm u lạnh giá thì có thể tăng nặng. Bệnh tiến triển dần thành mạn tính. Trường hợp nghiêm trọng có thể dẫn tới teo cơ, biến dạng khớp, ảnh hưởng tới chất lượng sống sinh hoạt của người bệnh. Đây chính là viêm khớp dạng phì đại hay viêm khớp dạng thoái hoá.
Nguyên nhân dẫn tới viêm khớp xương rất nhiều: tổn thương, lao động mệt mỏi, bị lạnh, béo mập, ít hoạt động, dinh dưỡng thiếu, môi trường lao động quá ẩm ướt lạnh giá....
Đông y cho rằng, người ta đến tuổi trung niên chức năng gan thận không đầy đủ, gân xương mất nuôi dưỡng, lại thêm mệt mỏi kéo dài, giá lạnh xâm nhập, khí huyết lưu thông bị ngăn cản gây ra các chứng bệnh về khớp. Đông y cũng có nhiều phương pháp điều trị. Bài này xin giới thiệu cùng bạn đọc một số món ăn bài thuốc điều trị chứng bệnh thoái hóa khớp gối.
 
 Khớp bình thường                               Khớp bị thoái hóa




Nguyên tắc ăn uống:

Tại giai đoạn phát cơn, khớp sưng đau rõ rệt, có khi kèm nóng, đỏ ở các mức độ khác nhau, nên ăn uống thanh đạm, chủ yếu các thức ăn giải nhiệt, thông ẩm như dưa hấu, bí xanh, ngó sen, đậu phụ... kiêng ăn các thức cay nóng, nướng, quay trợ hoả hoặc mỡ béo, ngọt sinh ẩm như ớt, rượu, thịt mỡ, thịt dê...
Ở giai đoạn giải trừ dần, do căn bản là gan thận không đầy đủ, gân xương mất nuôi dưỡng, do vậy ăn uống nên bồi ẩm, chủ yếu là các thức ăn bổ lách tiêu ẩm như hồng táo, ý dĩ nhân, thịt chó, thịt dê...
Bệnh này là sự suy thoái dạng toàn thân biểu hiện cục bộ ở khớp gối, nên chữa trị cần chú ý chăm sóc toàn thân như ăn sữa bò, sữa đậu nành, xích đậu, đại táo...
Đây là bệnh có tổn thương sụn khớp nên cần ăn nhiều thức ăn có giàu chất sụn và có lợi cho việc sửa chữa khôi phục sụn khớp như vây cá, tai lợn, gân móng khuỷu, xương sườn thực phẩm có mai vỏ, như cua, tôm tép, trứng ngâm dấm...

Một số món ăn bài thuốc:

Bài 1: Bí xanh 500g, xương sườn của lợn 250g, nấu canh ăn, nên ăn nhạt, dùng chữa giai đoạn phát cơn, chủ yếu là giai đoạn sưng, ít nóng đỏ, hoặc giai đoạn giải trừ bệnh để giữ gìn sức khỏe, phòng tái phát.
Bài 2: Mướp tươi 250g, đậu phụ 250g, gia vị vừa đủ nấu canh ăn, dùng chữa giai đoạn phát cơn cấp tính có sưng, nóng đỏ đau ở mức độ nhẹ.
 
 Canh bí xanh sườn lợn.
Bài 3: Đậu xanh 100g, ý dĩ nhân 50g, đường cát, hoa quế vừa đủ, nấu canh ăn điểm tâm, sớm tối ngày 2 lần, dùng chữa giai đoạn cấp tính, sưng nóng đỏ đau rõ rệt, hạn chế cử động.
Bài 4: Hồng táo 10 quả, ý dĩ nhân 50g, không dùng đường nấu canh ăn điểm tâm, chia 2 lần sớm tối ăn hết, dùng chữa, giai đoạn giải trừ dần, sưng đau không còn rõ nữa, chỉ còn mệt mỏi.
Bài 5: Ý dĩ nhân 50g, đậu xanh 25g, bách hợp tươi 100g. Bách hợp tẽ cánh, xé bỏ màng trong, dùng chút muối tinh bóp nhẹ, rửa sạch để bỏ vị đắng, đậu xanh và ý dĩ nhân rửa sạch, đun sôi, đun nhỏ lửa tới khi đậu nhừ, sau thêm bách hợp cùng nấu tới đặc. Khi ăn thêm chút đường trắng, sớm tối mỗi lần ăn 1 bát con, dùng chữa âm hư, nóng trong, khớp gối sưng nóng đỏ đau nhiều.
Bài 6: Bột bạch phục linh 20g, xích tiểu đậu 50g, đại táo 10 quả, gạo tẻ 100g. Xích tiểu đậu nấu tới mười phần chín năm, rồi thêm gạo tẻ và đại táo vào nấu cháo, khi sắp đặc, thêm bột phục linh vào nấu thành cháo đặc, dùng chữa khớp gối sưng lan, hơi nóng.
Bài 7:  Nam ngũ gia bì 50g, gạo nếp 500g, ngũ gia bì rửa sạch, thêm nước ngâm no, sắc nước, cứ 30 phút lấy nước sắc một lần, cộng lại 2 lần, đem nước đó nấu với gạo nếp thành cơm nếp hơi khô, để nguội, thêm men rượu vừa đủ, trộn đều, lên men thành rượu cái. Mỗi ngày lượng vừa đủ ăn trong bữa ăn, dùng chữa giai đoạn giải trừ dần, có đau mỏi không chịu được gió lạnh.


Bài 8: Đậu tương 30g, hồng trà 2g, muối ăn 0,5g, nước 500ml. Nấu đậu tương tới chín, lấy nước, thêm hồng trà, muối ăn đun sôi. Mỗi lần uống 100ml, chia 4 lần, sau ăn đậu tương, mỗi ngày 1 thang, có tác dụng thông ẩm tiêu sưng, dùng chữa khớp gối sưng khá rõ nhưng không nóng đỏ.
(Sưu tầm)

Khi bị rết cắn, bạn làm gì

Có nhiều loại thuốc để điều trị hiệu quả khi bị rết cắn. Người dân tộc Dao thường dùng 2 vị thuốc để bôi vào vết cắn, đó là: nước dãi của Gà hoặc ốc (ốc trên cạn hay dưới nước đều dùng được).
Thực ra, Gà vốn là tử thần của rết. Con Gà có nhiều bí ẩn trong mối quan hệ với loài rết nói riêng, với vũ trụ và con người nói chung. Vai trò “sát thủ” quan trọng nhất của Gà đối với con rết là nước dãi của nó. Nước dãi Gà có thể vô hiệu hoá nọc độc của rết và tiêu hoá con rết thành thức ăn ngon cho gà. Vì vậy nước dãi của Gà đã trở thành bài thuốc chữa rết cắn rất hiệu nghiệm.
Cách dùng bài thuốc
Khi bị rết cắn, trước hết phải lấy vải, dây hay kiếm cái gì có thể buộc được để buộc vào phía trên vết cắn (thắt ga-rô) để hạn chế nọc rết truyền về tim. Sau đó tìm bắt ngay một con Gà, dùng ngón tay móc họng Gà lấy nước dãi rồi bôi vào vết rết cắn. Làm như thế hai hay ba lần thì cơn đau sẽ dịu bớt. Nếu không có gà thì phải tìm loài ốc thay thế bởi giữa loài ốc và loài rết cũng có một mối liên quan bí ẩn.
(Sưu tầm)
 
Home | Nhà đẹp | Trần Thạch Cao | Đá Granic | Sơn nhà| Rao Vặt | Email| ô tô | Call phone: +84987002345 | ATLĐ | Feed | Youtube | Facebook | Twitter | Google+ | Login | Register |